MÙA CHAY B | NIỀM VUI PHỤC VỤ

VỌNG PHỤC SINH

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015
HÃY LĂN TẢNG ĐÁ RA Người ta kể lại trường hợp của một người bị nhồi máu cơ tim, sau khi sử dụng mọi biện pháp cấp cứu, bệnh viện kết luận rằng bệnh nhân đã chết và gia đình đã đem bệnh nhân về nhà để lo mai táng. Tuy nhiên khi tẩm liệm, người ta thấy xác người này vẫn mềm. Một người bạn thân đã đề nghị gia đình ngưng việc tẩm liệm. Đến chiều, người ta thấy cái xác dường như cử động. Mọi người sợ hãi bỏ chạy, người bạn kia mạnh dạn đến gần thì thấy cái xác mở mắt. Ông đã giục gia đình đem người nhà đến bệnh viện và người bệnh đã phục hồi. Các bác sĩ cho rằng,người chết này chỉ chết lâm sàng dạng sâu, nên các bác sĩ tại bệnh viện trước đây đã kết luận là ông đã chết. Điều đáng lưu ý là tại sao gia đình và người thân khi thấy xác ông cử động trở lại, họ không vui mừng vì thấy ông còn sống mà lại sợ hãi bỏ chạy? Có lẽ vì trong đầu họ, người thân đã chết thật rồi. Câu chuyện trên giúp chúng ta dễ hiểu tâm trạng của các phụ nữ Tin Mừng thuật lại: Khi được hai người mặc áo trắng báo tin Chúa đã sống lại, các bà ra khỏi mộ liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía, không dám nói gì với ai vì sợ. Sự kiện Chúa sống lại, mặc dù đã được Chúa nói trước nhiều lần, song đây vẫn là một điều vượt quá sức tưởng tượng, chưa bao giờ thấy.Vì thế, các phụ nữ này vô cùng sợ hãi và không dễ dàng chấp nhận. Trong tâm hồn các bà, Chúa đã chết, đã chấm dứt tất cả, không còn hy vọng gì nữa. Các bà ra mộ với một mục đích duy nhất là đi thăm và chăm sóc một cái xác đã chết. Ý nghĩ này bao trùm tâm trí các bà khiến tâm hồn các bà chìm ngập trong sự ám ảnhvề cái chết của Chúa Giêsu. Bên cạnh đó, hòn đá lấp cửa mộ cũng đồng thời là hòn đá đang đè nặng trên tâm trí các bà và đè bẹp mọi hy vọng của các phụ nữ này. Các bà bảo nhau: Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm chúng ta? Chắc chắn không ai có thể lăn tảng đá ra khỏi tâm hồn, trừ khi có bàn tay của Thiên Chúa. Khi các phụ nữ đến nơi, ngước mắt lên, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi cửa mộ. Điều này cho thấy: Tin Mừng Phục sinh vượt quá lẽ tự nhiên của con người, nếu chúng ta cứ mãi cắm mặt xuống đất, nuôi dưỡng những lý luận theo kiểu dưới đất, thì chúng ta sẽ bị chôn vùi trong ngôi mộ chết chóc của nó. Ngược lại, biến cố phục sinh đòi chúng ta phải ngước mắt lên, chỉ khi ngước mắt lên chúng ta mới thấy và nhận ra quyền năng của Thiên Chúa; ngước mắt lên để chúng ta có sức mạnh đẩy lui hòn đá chết chóc ra khỏi tâm hồn. Người thanh niên mặc áo trắng nói với các bà: Đừng hoảng sợ ! Các bà tìm Đức Giêsu Nazaret, Đấng bị đóng đinh ? Người đã trỗi dậy rồi, không còn ở đây nữa. Đó là tin mừng Phục sinh đầu tiên được loan báo cho các phụ nữ. Để củng cố cho niềm tin này, người thanh niên đó lại dặn các phụ nữ: Về nói với các môn đệ của Người và ông Phêrô rằng, Người sẽ đến Galilêa trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Về báo cho các môn đệ và ông Phêrô - điều này cho thấy niềm tin vào Chúa phục sinh phải được cậy dựa vào niềm tin của các tông đồ là Giáo hội mà Phêrô là thủ lãnh. Chính Phêrô và các tông đồ mới là những người có tiếng nói quyết định và sau cùng về vấn đề này. Vì thế, để đón nhận được mầu nhiệm phục sinh, chúng ta phải gắn bó và nghe theo sự dạy bảo của Phêrô và các tông đồ. Chúa phục sinh hẹn gặp các tông đồ tại Galiêa.Ngài vẫn hẹn chúng ta đến để được gặp Ngài. Ngài hẹn gặp chúng ta nơi Thánh lễ mỗi ngày. Nơi đây, chúng ta sẽ được gặp Đấng Phục sinh một cách sống động, cụ thể qua Lời của Ngài, qua giáo huấn của Giáo hội. Đặc biệt, chúng ta sẽ gặp Ngài qua bí tích Thánh Thể. Nhờ gặp gỡ Chúa Phục sinh mỗi ngày, chúng ta sẽ được biến đổi nên con người mới. Để đón nhận được Tin mừng phục sinh,chúng ta phải lật tảng đá chết chóc đang đè nặng tâm hồn. Cần lật bỏ hòn đá tội lỗi, đang làm chúng ta xa tránh Thiên Chúa, dửng dưng với Tin mừng Phục sinh, trở nên vô cảm với lời chứng của Giáo Hội. Bên cạnh đó còn có những tảng đá lớn mà xã hội và con người ngày nay đang cố ý dè trên chúng ta. Đó là lối sống duy khoa khọc, tư tưởng duy vật vô thần, những trào lưu sống thực dụng, tiêu dùng, hưởng thụ đang là những hòn đá lớn cản trở, khiến nhiều người nghi ngờ về Mầu nhiệm Phục sinh. Điều quan trọng để đón nhận được Tin vui Phục sinh, chúng ta phải ngước mắt lên để nhìn nhận quyền năng Thiên Chúa, để thấy những sự siêu việt mà Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử và trong cuộc đời mỗi người. Đừng cắm mặt xuống đất để tìm vật chất, cũng đừng cắm mặt xuống vì sợ hãi. Có những người sợ mất quyền lợi, mất địa vị xã hội, họ cố tình cắm mặt xuống đất, không dám thể hiện niềm tin cuả mình, không dám loan truyền mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Hãy ngước mặt lên để bước ra khỏi sự sợ hãi ngại ngùng, hiên ngang sống và làm chứng về việc Chúa đã sống lại. Ngước mắt lên để nhìn thấy quyền năng biến đổi của Thiên Chúa, để dám phó thác, tin tưởng vào Ngài. Sau cùng, Thánh Phalô đã dạy chúng ta: Dòng nước thánh tẩy đã làm cho chúng ta trở nên con người mới. Ánh sáng của Chúa Phục sinh đã được thắp sáng trong mỗi chúng ta. Hãy làm cho ngọn đèn phục sinh luôn cháy sáng và luôn chiếu tỏa ra cho anh chị em qua đời sống gương sáng của mình. Hãy để cho dòng nước tái sinh của Bí tích Rửa tội làm cho chúng ta nên con người mới. Hãy chôn vùi khỏi chúng ta sự lười biếng, tội lỗi và những thói xấu để trở nên con người mới, con người thuộc về Chúa Kitô Phục sinh. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

SỰ VÔ CẢM ĐẾN NHẪN TÂM CỦA CON NGƯỜI Trong sứ điệp Mùa Chay 2015, Đức Thánh Cha Fancis cảnh báo về lối sống đang diễn ra trong xã hội và thế giới hôm nay. Đó là lối sống dửng dưng vô cảm, thiếu quan tâm đến người khác. Ngài nhắc lại câu chuyện Cain và Abel trong Cựu Ước. Cain vì ghen tỵ, nghĩ là Thiên Chúa thương Abel hơn mình, nên đã tìm cách thủ tiêu Abel. Sau khi gây ra điều ác, Cain lẩn trốn Thiên Chúa, nhưng ánh mắt của Thiên Chúa vẫn dõi theo anh. Chúa hỏi anh : Cain ơi ! Em ngươi đâu ? Cain đã trả lời hết sức nhẫn tâm : Tôi không biết ! Tôi không phải là người canh giữ em tôi ! Đức Thánh Cha cho thấy sự vô tâm, vô cảm đang ảnh hưởng trên nhiều cá nhân. Hơn nữa, nó còn mang tầm mức xã hội, quốc gia và thế giới. Nó thể hiện qua việc con người chỉ lo tìm kiếm phần lợi về cho mình mà không quan tâm đến hậu quả mình gây ra hoặc những điều đang xảy ra cho anh em. Lý do là vì khi con người cảm thấy an toàn, thoải mái trong sự hưởng thụ của mình, thì người ta quên những vấn đề của người khác cùng những đau khổ, bất công mà họ phải chịu… Những lúc ấy, con người rơi vào tình trạng dửng dưng. Thái độ ích kỷ, dửng dưng trở nên hết sức nguy hiểm khi trở thành một lối sống trong xã hội. Ngày nay, con người tỏ ra dửng dưng với các sự kiện đang xảy ra, coi thường chân lý và sự thật, không lên tiếng phản đối những bất công để bảo vệ công lý. Từ dửng dưng với tha nhân sẽ dẫn đến dửng dưng với Thiên Chúa. Bài Thương khó hôm nay cho thấy tình yêu hy sinh đến cùng của Thiên Chúa. Vì yêu con người, muốn cho con người hạnh phúc, Chúa Giêsu đã chấp nhận một cuộc hành hình đau đớn và cuối cùng là cái chết nhục nhã trên thánh giá. Cũng qua bài thương khó này, tác giả còn cho thấy sự dửng dưng, vô cảm của con người, của xã hội trước bản án bất công mà giới lãnh đạo đã cố tình áp đặt trên một người công chính. Trước hết là sự dửng dưng, vô cảm của các môn đệ. Các ông là những người gần Chúa Giêsu nhất, đáng lẽ các ông phải là người hiểu và cảm thông với Chúa hơn mọi người. Thực tế thì ngược lại, các ông chỉ quan tâm đến bản thân, mà không hề đồng cảm với Chúa Giêsu khi Ngài phải đối diện với cuộc thương khó. Trong lúc Chúa đau khổ đến nỗi có thể chết được, thì các tông đồ vẫn còn say trong giấc ngủ, mắt các ông còn mơ màng. Khi Giuda dẫn người Do Thái đến bắt Chúa, Chúa Giêsu hết sức bênh vực cho các tông đồ, Ngài còn đề nghị với chúng : Các anh bắt tôi thì cứ bắt, nhưng hãy để cho những người này đi. Còn các tông đồ như vừa giật mình thức giấc, các ông phản ứng một cách yếu ớt. Cuối cùng, tất cả đều bỏ trốn, mặc cho Chúa Giêsu một mình bị quân dữ bắt trói và lôi đi. Sự vô tâm của Giuda đã dẫn đến sự nhẫn tâm, tàn ác khi anh ta vì chút ít tiền, đã chấp nhận làm môi giới để quân lính bắt Thầy mình, đẩy Thầy vào con đường chết. Biết trước Thầy sẽ bị bắt, nhưng anh vẫn thản nhiên bước đến chào và hôn Thầy. Cái hôn này không còn là dấu chỉ biểu lộ tình yêu thương nồng ấm, nhưng đã trở thành cái hôn lạnh lùng, thành dấu chỉ của sự phản bội. Việc làm này của Giuda đã góp phần làm tổn thương Chúa Giêsu, làm cho đau khổ của Ngài không chỉ là nỗi đau thể xác, mà còn là nỗi đau thấu trong tâm hồn khi bị phản bội bởi chính người mình yêu quý. Thứ đến là sự dửng dưng, vô cảm của những người lãnh đạo Do Thái. Thánh Gioan cho thấy, những người lãnh đạo chỉ muốn tìm mọi cách để đạt được mục đích của mình là loại trừ Chúa Giêsu. Vì thế, họ đã bất chấp công lý, từ chối sự thật. Họ biết rõ Chúa Giêsu không làm gì sai trái. Họ muốn giết Chúa chỉ vì Ngài đã lên tiếng bênh vực chân lý, chỉ ra những sai trái của họ, khiến họ cảm thấy khó chịu. Hơn nữa, các thượng tế và luật sĩ đã coi mình như những người nắm giữ giáo lý, sở hữu chân lý. Vì thế, họ không chấp nhận một người nào khác nói về Thiên Chúa. Vậy nên khi Chúa Giêsu xuất hiện, Ngài nói về một Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Thiên Chúa nhân từ, thì các thương tế và luật sĩ đã tìm cách loại trừ Chúa. Họ thản nhiên tuyên bố : Nó phải chết ! Từ các thượng tế và luật sĩ, sự dửng dưng vô cảm đã lan truyền đến dân chúng. Trong số những người đứng biểu tình, la hét trước dinh Philatô đòi giết Chúa Giêsu, có nhiều người đã từng biết Chúa Giêsu, nghe Ngài giảng dạy. Thậm chí, nhiều kẻ đã từng được ăn bánh hoặc được hưởng phép lạ Chúa làm cho họ. Thế nhưng, trước dinh Philatô, họ thản nhiên kêu gào : Giết đi ! Giết nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá ! Sự dửng dưng, vô cảm của đám đông dân chúng đã trở thành nhẫn tâm, thành dã man khi họ quyết tâm loại trừ người công chính là Chúa Giêsu để chấp nhận kẻ gian ác là Baraba. Họ chấp nhận từ chối Thiên Chúa để làm nô lệ cho đế quốc khi họ kêu gào : Chúng tôi chỉ có một vua là Cesare ! Cuối cùng, họ hồ hởi đi theo để xem một con người chịu đau khổ, bị hành hạ và bị kết án tử hình giống như thể mình là những người vô can. Trong đám đông dân chúng, có kẻ còn buông những lời độc địa, mỉa mai Đấng đã từng làm ơn cho mình. Con người thường tỏ ra dửng dưng, vô cảm và đối xử nhẫn tâm với nhau, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ như thế. Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người và những đau khổ của họ. Thiên Chúa đã nhìn thấy con người đang phải đau khổ trong tội và bị kìm hãm, trói buộc bởi ma quỷ. Ngài đã tìm đến với con người, xoa dịu những đau khổ thể xác, chữa trị những vết thương trong tâm hồn và giành lại tự do, hạnh phúc cho con người. Mặc dù chịu một bản án bất công và dã man nhưng Ngài không một lời than trách. Ngài vẫn tạo những cơ hội giúp con người nhìn lại đời sống và hành động của mình. Ngài đã đặt cho các tông đồ câu hỏi để giúp các ông thức tỉnh : Đến giờ này mà anh em còn ngủ được sao ? Ngài cũng hỏi Giuda : Ngươi định dùng cái hôn để nộp con người sao ? Trong lúc các môn đệ bỏ trốn hết vì sợ, Chúa Giêsu vẫn nhớ đến các ông và tin tưởng ở các ông. Ngài đã trả lời cho thầy thượng tế rằng : Điều tôi đã nói, ông cứ hỏi những người đã nghe tôi. Họ biết tôi đã nói gì. Trên cây thập giá, khi bị treo cùng với hai tên trộm, Chúa Giêsu vẫn quan tâm tới lời cầu xin của tên trộm lành : Khi nào về Nước Trời, xin nhớ đến tôi ! Chúa Giêsu đã hứa với anh : Ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi. Ngài quan tâm đến những tên lính, vì mệnh lệnh mà hành khổ Ngài, bằng lời cầu xin : Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết ! Trong giờ phút đau khổ nhất, Chúa Giêsu còn quan tâm đến Mẹ Maria và các môn đệ khi trao phó Mẹ cho Thánh Gioan : Đây là con của Bà và đây là Mẹ con ! Nghe bài Thương khó của chúa Giêsu, chúng ta nhận ra rằng : Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người, chỉ có con người thường dửng dưng, vô cảm với nhau và dửng dưng, vô cảm với Thiên Chúa. Sự dửng dưng, vô cảm ấy bắt đầu từ lối sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân, đến lợi ích cá nhân mà bỏ quên người bên cạnh. Lối sống này cũng đang diễn ra ngay trong các gia đình, khi các thành viên chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến những người khác. Có nhiều người cha, người mẹ hoặc con cái bị bỏ quên trong gia đình, bị gạt ra khỏi sự quan tâm, chăm sóc, có khi còn lạnh lùng gây đau khổ cho nhau. Trong xã hội, nhiều người đã cố tình làm ngơ trước sự dữ, sự ác ; nhiều người đã cộng tác với những bất công mà loại trừ những anh chị em đau khổ. Nguyên nhân sâu xa của lối sống dửng dung này là vì con người dửng dưng với Thiên Chúa, nên họ cũng dửng dưng, vô cảm với anh em. Một khi con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình thì chắc chắn sự dữ và sự ác sẽ đến trong tâm hồn. Một khi trái tim con người đóng kín trước lời mời gọi của Thiên Chúa thì cũng sẽ đóng kín trước những nhu cầu của anh chị em. Cử hành cuộc thương khó của Chúa Giêsu hôm nay, xin Chúa biến đổi tâm hồn và cuộc sống chúng ta. Xin cho mỗi người trở nên mềm lòng trước tình yêu của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có một trái tim thật mềm để biết chạnh thương, rung động trước những đau khổ của anh em, và có một tâm hồn thật nhạy bén để biết quan tâm và cảm thông. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

THỨ NĂM THÁNH 2015

THÁNH THỂ – QUÀ TẶNG TÌNH YÊU Cách đây vài tháng, cộng đồng mạng khâm phục một người mẹ trẻ về sự hy sinh của cô dành cho con. Cô sống tại Hà Nội. Mang thai được vài tháng, một lần đi khám thai, bác sĩ phát hiện cô có một khối u ác tính trong vòm mắt. Các bác sĩ nói nếu cô đồng ý hóa trị ngay trong giai đoạn đầu thì có thể ngăn chặn được khối u. Tuy nhiên, nếu thực hiện hóa trị, đứa bé trong bụng cô sẽ bị ảnh hưởng và có nguy cơ sẽ chết. Sau khi suy nghĩ và bàn với chồng, cô đã nhất định từ chối các biện pháp hóa trị để không làm ảnh hưởng đến thai nhi. Cô nói rằng : Tôi sẵn sàng chết vì ung thư để con tôi được ra đời khỏe mạnh. Sau những ngày đó, cô đã phải hết sức vất vả để chống chọi với khối u ác tính và để bảo vệ đứa con. Sau đó, cô đã sinh ra một bé trai kháu khỉnh, dễ thương, nhưng rất tiếc, cô chỉ có thể nghe tiếng khóc của con mà không thể nhìn thấy con. Cô chia sẻ trong niềm vui : Đôi mắt của tôi đã đổi được mạng sống của một con người. Tôi sẽ không bao giờ hối hận về quyết định của mình. Người phụ nữ trên được coi là can đảm, là mẫu gương của tình mẫu tử vì đã dám chấp nhận sự mù lòa, đau đớn vì bệnh tật và chấp nhận cái chết để cứu mạng sống của đứa con mình. Trong buổi chiều ngày Thứ Năm Thánh hôm nay, chúng ta còn được chứng kiến một tình yêu hy sinh cao cả, vĩ đại hơn, đó là tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Ngài không chỉ hy sinh, chấp nhận đau khổ và cái chết, mà còn muốn trao tặng chính máu thịt của Ngài làm của ăn, của uống để đem lại cho chúng ta sự sống. Chỉ những ai đã nuôi con, mới hiểu hết nỗi lòng cha mẹ đối với con cái, chỉ những ai sống trong tương quan tình yêu với Chúa Giêsu thì mới có thể cảm nhận được tình yêu của Ngài mà thôi. Thánh Gioan đã cảm nghiệm và đã nhận ra tình yêu thương của Chúa Giêsu dành cho các học trò qua từng lời nói, từng hành động trong bữa tiệc chia tay này. Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, …Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình, và người yêu thương họ đến cùng. Yêu đến cùng là yêu như thế nào ? Đó là yêu trọn vẹn, không so đo tính toán, không cân nhắc thiệt hơn và cũng không bao giờ hối tiếc. Yêu đến cùng là chấp nhận mọi sự thiệt thòi, rủi ro về mình, chấp nhận đau khổ và cả cái chết, là làm tất cả những gì có thể cho người mình yêu, để người mình yêu được sống hạnh phúc. Vì thế, Thánh Gioan thấy Chúa Giêsu như một người Cha biết trước mình không còn nhiều thời gian ở với các môn đệ, nên Ngài đã làm tất cả những gì có thể để đem lại hạnh phúc cho môn đệ mình. Ngài chỗi dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Với từng cử chỉ đang diễn ra trước mắt các tông đồ, Thánh Gioan đã nhận ra nhiều ý nghĩa nơi hành động của Chúa Giêsu. Chỗi dậy rời khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra : Chúa Giêsu đã rời bỏ địa vị là một vị Thiên Chúa, một người Thầy để bước đến với con người. Ngài chấp nhận hy sinh đến hiến mạng sống mình cho các môn đệ. Ngài lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và rửa chân cho các môn đệ : Với hành động này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã chấp nhận một cuộc hoán đổi vị trí, từ một Thiên Chúa, Ngài chấp nhận làm con người ; từ một người Thầy, Ngài chấp nhận làm đầy tớ ; từ địa vị được tôn thờ, Ngài chấp nhận trở thành kẻ phục vụ. Chỉ kẻ nô lệ mới rửa chân cho chủ, vậy mà, Chúa Giêsu lại làm công việc ấy cho các môn đệ của mình. Không chỉ hạ mình làm kẻ phục vụ, Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa khi Ngài tự hiến chính mình để phục vụ trọn vẹn cho nhân loại. Ngài đã đi đến tột cùng của tình yêu khi dâng tặng thịt mình làm của ăn và máu mình làm của uống cho nhân loại : Đây là mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống. Khi yêu nhau, người ta muốn ở mãi bên nhau và nên một với nhau. Vì yêu, Chúa Giêsu cũng muốn ở mãi với con người, muốn nên một với con người. Ngài đã chấp nhận trở thành của ăn, của uống để cho những người Ngài yêu được ăn, và để ngài có thể đi vào trong tâm hồn, vào trong từng đường gân thớ thịt của con người, làm nên máu thịt con người. Với hành động trao ban máu thịt của mình cho các môn đệ, Chúa Giêsu cho thấy máu thịt của Ngài không chỉ trở thành lương thực bổ dưỡng mà còn có sức thanh tẩy tâm hồn con người khỏi mọi tội lỗi, biến đổi những kẻ đón nhận và trao ban cho họ sức sống thần linh của Thiên Chúa. Giống như một người cha sắp phải chia tay con mình, ông muốn làm tất cả những gì có thể cho con, Chúa Giêsu cũng vậy. Ngài không chỉ gây bất ngờ cho các môn đệ khi rửa chân và ban thịt máu cho các ông làm của ăn, của uống, Ngài còn làm một việc táo bạo hơn nữa, đó là trao cho các ông quyền nhân danh Ngài để thực hiện những việc Ngài vừa làm, tức là lập nên chức Linh Mục : Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Khi trao ban cho các tông đồ chức Linh mục, Chúa Giêsu biết rất rõ từng người trong các ông. Chúa biết các ông yếu đuối, thấp hèn và còn mang đầy sự ghen tị, nhỏ nhoi. Vậy mà, Chúa đã tin tưởng đặt quyền năng của mình vào tay các ông. Khi trao cho các ông : Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy, Chúa vừa cho các tông đồ nhân danh Chúa để làm công việc của một vị Thiên Chúa, đồng thời Chúa cũng hạ mình để “vâng lời” các ông. Vì thế, khi các ông làm công việc này, thì Chúa lại hiện diện bằng việc làm cho bánh rượu trở nên thịt máu Chúa và trở nên lương thực để các ông phân phát cho mọi người. Mặc dù được Chúa trao ban chức linh mục, nhưng Chúa không hề làm thay đổi con người của các tông đồ, cũng không biến các ông thành siêu nhân, nhưng vẫn muốn các ông sống trọn thân phận con người với những giới hạn của con người. Chọn những con người bất toàn để thi hành nhiệm vụ siêu việt, chọn những người yếu đuối, tội lỗi để thực hiện công việc thánh thiêng, Chúa Giêsu muốn các tông đồ ý thức điều đó, để các ông không cậy dựa vào sức riêng mình, nhưng khiêm tốn cậy dựa vào quyền năng và sự nâng đỡ của ơn Chúa. Chắc chắn trong bữa tiệc ly hôm đó, các tông đồ chưa thể hiểu hết ý nghĩa việc Chúa làm và những điều Chúa mong đợi nơi các ông. Vì thế, Chúa Giêsu đã giải thích : Việc Thầy làm bây giờ, anh em chưa hiểu được, nhưng sau này, anh em sẽ hiểu… Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Đó là bài học quan trọng Chúa muốn các ông đón nhận. Rửa chân cho nhau tức là phải dám từ bỏ vị trí của mình, rời khỏi chỗ an toàn, êm ấm của mình để bước đến với anh em, để phục vụ anh em. Rửa chân cho nhau là phải dám cúi xuống, từ bỏ những tự ái cùng với kiêu căng để khiêm nhường phục vụ anh em, không đòi hỏi, không điều kiện và không mong đợi bất cứ sự đền đáp nào. Hãy yêu như Thầy đã yêu và hãy làm như Thầy đã làm, đó chính là bài học Chúa muốn nơi mỗi người. Chúa muốn chúng ta phục vụ không vì miễn cưỡng, nhưng hãy làm với sự thúc đẩy của tình yêu. Khi được tình yêu thúc đẩy, ta sẽ biết phải làm gì để đem đến niềm vui và hạnh phúc cho anh em. Yêu như Chúa yêu là dám trao ban con người và cả cuộc đời cho anh em, là trở nên tấm bánh chấp nhận bị bẻ ra, bị nhai nát để cho anh em được sống hạnh phúc. Hãy cúi xuống để có thể lắng nghe và thông cảm với những đau khổ và nhọc nhằn của anh chị em. Bao lâu chúng ta không dám cúi xuống, không dám rửa chân cho anh em, thì chúng ta không thể nghe, không thể nhìn thấy những đau khổ, bất hạnh của anh chị em mình. Hãy cúi xuống để phục vụ cha mẹ già trong gia đình, bằng sự yêu thương kính trọng ; hãy cúi xuống để yêu thương và phục vụ chồng, vợ và con cái của mình bằng sự hy sinh, bằng sự trao ban và yêu thương đến tận cùng ; hãy quan tâm đến nhau nhiều hơn, hãy quan tâm đến hàng xóm láng giềng, những người sống bên cạnh chúng ta, hãy để cho trái tim mình nhạy bén và nhắc bảo chúng ta biết phải làm gì cho nhau. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy là lời mời gọi tha thiết Chúa gửi đến cho từng người. Hãy siêng năng đến với Bí tích Thánh Thể, siêng năng lãnh nhận, cầm lấy mà ăn để nhận được sự nâng đỡ bổ sức và tình yêu thương của Chúa. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy còn là lời nhắc nhở tất cả chúng ta chu toàn chức linh mục của mình là thờ phượng, tế tự Thiên Chúa, là dâng hy lễ mỗi ngày cùng với những hy sinh, vất vả để làm nên của lễ tôn vinh Thiên Chúa, đem ơn cứu độ cho chính mình và cho gia đình. Đừng để cho công việc và sự lười biếng làm ta quên lệnh truyền thiêng liêng này, đồng thời cũng cầu nguyện và thông cảm cho các linh mục thừa tác, họ là những con người yếu đuối, hèn mọn luôn cần đến sự nâng đỡ và cảm thông của mọi người. Xin cho mỗi người cảm nhận được tình yêu và thấm nhuần bài học yêu thương phục vụ Chúa dạy hôm nay, để nhờ theo bước Chúa trong những ngày thánh này, chúng ta cũng dám sống và thực hành điều Chúa muốn chúng ta hôm nay : Hãy yêu như Thầy đã yêu và hãy làm như Thầy đã làm cho anh em. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT LỄ LÁ – NĂM B

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015
SỰ THÚC ĐẨY CỦA TÌNH YÊU Thưa quý OBACE, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sẽ còn phải tốn rất nhiều thời gian và giấy mực để viết về đề tài tình yêu, vì người ta sẽ không thể nào giải thích, cũng không thể diễn tả hết được tình yêu cha mẹ dành cho con cái, tình yêu đôi bạn trẻ dành cho nhau. Người ta sẽ không thể giải thích được tại sao có những đôi bạn trẻ dám chấp nhận mọi nguy hiểm kể cả mạng sống để có thể đến được với nhau, hay những người cha, người mẹ chấp nhận đau khổ, hao mòn và cả cái chết để cho con mình được sống. Ngược lại, xã hội không thể hình dung được có những người con đang tâm đem mẹ già bỏ ngoài vỉa hè trong mùa đông giá rét, sau đó, người mẹ chết thì không đứa con nào muốn đưa xác mẹ vào nhà. Tin Mừng Marcô hôm nay cũng cho thấy những mảng sáng và mảng tối trong một bức tranh về tình yêu, trong đó bao gồm cả sự ngưỡng mộ, yêu mến lẫn sự phản bội bẽ bàng đối với tình yêu của Chúa Giêsu. Bằng một giọng văn chân chất, tác giả cho thấy tình yêu của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và nhân loại như một dòng chảy tự nhiên xuất phát từ trái tim của một người cha dành cho con. Chúa Giêsu được trình bày như một người cha cặm cụi chuẩn bị từng chi tiết, lo lắng hy sinh cho con đủ điều và kết cục là chấp nhận cả cái chết để cho con mình hạnh phúc. Trước khi kể về cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Thánh sử đã kể lại hai biến cố tương phản nhau để cho thấy sự đáp trả của con người đối với tình yêu Thiên Chúa. Trước hết là câu chuyện xảy ra ở Betania, tại nhà ông simon Cùi. Sự kiện là, đang khi mọi người dùng bữa, thì có một phụ nữ xuất hiện. Trong mắt mọi người, cô ấy là một đứa lăng loàn mất nết, vậy mà, phụ nữ này đã dám đập bể một bình dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân Chúa. Việc làm này khiến nhiều người ở đó cho là vô lý và phí của. Họ trách cô rằng : Tại sao không bán bình dầu lấy tiền cho người nghèo ? Họ đã mượn danh người nghèo để phê bình hành động của cô, vì người ta không thể hiểu tại sao cô làm như thế. Nhưng Chúa Giêsu đã hiểu, đã cảm nhận được và còn biết thấu tâm hồn cô, Ngài đã nói với mọi người rằng cứ để cho cô làm. Vì những người này đã lấy những lý luận thông thường của lý trí để xét đoán hành động của người khác, còn Chúa Giêsu, Ngài nhìn hành động của người khác bằng con mắt của trái tim để thấu cảm với họ. Chúa Giêsu cũng điều chỉnh thái độ mượn danh người nghèo để phê bình hành động của người khác khi nói với họ : Người nghèo thì anh em luôn có bên cạnh, còn tôi thì các ông chẳng có mãi đâu. Cô ấy lấy dầu thơm xức chân tôi là dấu chỉ của việc mai táng… thiên hạ sẽ nhớ đến việc làm này của cô. Nếu như câu chuyện thứ nhất đem lại cho Chúa Giêsu sự an ủi, thì câu chuyện thứ hai lại gây tổn thương, đau lòng cho Ngài. Giuđa là một trong những môn đệ của Chúa lại trở thành kẻ phản bội, môi giới trao nộp Thầy với cái giá bán một tên nô lệ. Cái đau khổ nhất trong tình yêu đó là khi thấy mình bị phản bội, mà kẻ phản bội lại là kẻ gần gũi nhất với mình. Chúa Giêsu đã trải qua nỗi đau bị phản bội ấy. Tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn hy vọng anh ta hối hận khi Ngài dành cho anh cử chỉ của tình yêu. Ngài nhiều lần nhắc anh trong bữa tiệc ly, nhưng anh không nhận ra tín hiệu yêu thương của Chúa, anh đã từ chối ánh sáng để chọn bước vào bóng tối. Dù bị phản bội và vấp phải sự cứng lòng của Giuđa, nhưng Chúa Giêsu vẫn không ngừng bày tỏ tình yêu của Ngài dành cho các môn đệ. Cao điểm của bữa tiệc vượt qua cuối cùng này, Chúa Giêsu đã thực hiện hết tất cả những gì trái tim mách bảo và tình yêu thúc đẩy. Ngài cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, trao cho các môn đệ và nói : Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy. Ngài cầm chén và trao cho các ông : Đây là chén máu Thầy, máu giao ước đổ ra vì muôn người. Với việc làm cho bánh rượu trở nên mình và máu rồi trao cho các môn đệ để các ông cầm lấy mà ăn mà uống, Chúa Giêsu đã trao cho các ông trọn vẹn cả con người của mình, trở nên như một quà tặng đặt vào tay các ông. Nếu như người phụ nữ chỉ đập bể một bình dầu, các ông đã lấy làm xót xa, thì giờ đây, Chúa còn bẻ nát cả con người của mình để trao cho các tông đồ làm của ăn của uống nuôi các ông. Hành động này chỉ có thể hiểu được bằng trái tim mà thôi. Liền sau đó, Tin Mừng thuật lại chi tiết việc Chúa Giêsu bước vào cuộc khổ nạn : kẻ phản bội thực hiện ý đồ của mình ; những thượng tế và luật sĩ là những kẻ chủ mưu thì hả hê vì chiến thắng ; các môn đệ, những người được yêu, thì dửng dưng nằm ngủ, rồi khi thức dậy thì sợ hãi bỏ trốn hết. Lúc này, Thánh Marcô muốn cho thấy : Chúa Giêsu đã bằng lòng bước vào trần gian vì yêu nhân loại, thì giờ đây, Ngài cũng bằng lòng đi hết con đường trần gian vì yêu nhân loại. Đoạn đừng cuối cùng ở trần gian của chúa Giêsu lại là đoạn đường bi thương nhất do chính những kẻ được yêu gây ra cho Ngài. Những luật sĩ, thượng tế đã muốn loại trừ Ngài ra khỏi cộng đồng. Họ hành hạ Ngài cho thỏa cái ác trong lòng họ. Họ trút xuống trên Ngài sự thù hận mà họ nuôi dưỡng. Câu chuyên Tin Mừng cho thấy một bên là tình yêu tột cùng của Thiên Chúa dành cho nhân loại, Ngài hy sinh tất cả, chịu đựng tất cả ; còn bên kia là bộ mặt thật của con người khi bị cái ác điều khiển, bị ma quỷ thống lĩnh, khi lương tâm không còn nhạy bén, khi sự thù hằn lên đến đỉnh cao thì sẽ dẫn đế tình trạng loại trừ người khác và hành động dã man như thế. Thưa quý OBACE, sự dã man, gian ác đang nằm sẵn trong mỗi người và ma quỷ là kẻ rất xảo quyệt, khéo léo khơi dậy cái ác và sự dã man trong mỗi con người. Cùng với ma quỷ là tình trạng tội lỗi sẽ làm cho lương tâm con người bị chai lì và bóp nghẹt trái tim khiến con người trở nên vô cảm trước nỗi đau của anh em đồng loại. Tình trạng này đang diễn ra ở nhiều nơi và nhiều tâm hồn con người. Thật đáng buồn khi ta thấy cái ác đang diễn ra trong xã hội và ngay trong khu vực chúng ta đang sống. Cái ác đang xảy ra ngay trong xóm đạo, trong gia đình những người Công Giáo. Điều đó chứng tỏ rằng, nơi đó đang thiếu vắng tình yêu, nhất là thiếu vắng Thiên Chúa. Họ thiếu vắng Thiên Chúa không phải vì Thiên Chúa không có mặt ở nơi đó, mà là do chính những con người ấy đã muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn và cuộc sống của họ. Họ không muốn Thiên Chúa can thiệp vào đời sống và công việc của họ. Bạo lực cũng đang xảy ra nơi gia đình. Nhiều cha mẹ đã không còn tình yêu quảng đại và sự hy sinh dành cho con cái, thay vào đó là sự ích kỷ, nghĩ đến mình nhiều hơn nghĩ đến con cái. Nhiều vợ chồng không còn muốn hy sinh cho nhau, nhiều cha mẹ ngại hy sinh, sợ vất vả vì con. Vì thế, họ đã biến gia đình thành nơi để trút xả những cơn giận dữ. Họ chửi bới, khiến cho gia đình không còn là mái ấm tình yêu nữa. Cũng vậy, nhiều bạn trẻ đã để cho bản năng và sự ác điều khiển, khiến dễ dàng cư xử với nhau bằng bạo lực, cơ bắp, bằng sự nóng nảy thay vì bằng tình yêu thương, sự quảng đại và tha thứ. Chỉ có tình yêu mới có thể đem đến hòa bình, chỉ có tha thứ mới có thể chữa lành được vết thương của hận thù. Xin cho mỗi người bước vào Tuần Thánh, nhìn lên thập giá Chúa Giêsu để học nơi Chúa bài học yêu thương và tha thứ. Hãy đón Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng và để Ngài hướng dẫn mọi hành động của chúng ta. Xin cho chúng ta cũng biết để cho trái tim và tình yêu thúc đẩy, để mỗi người dám hành động vì tình yêu dù có phải chấp nhận hy sinh. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

TĨNH TÂM MÙA CHAY

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

CHÚA NHẬT V MC B:

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015
CHẤP NHẬN MỤC NÁT ĐỂ TRỔ SINH MÙA LÚA MỚI Ở đất nước nông nghiệp như Việt Nam, cây lúa gắn liền với đời sống của người dân. Nghề trồng lúa của Việt nay tuy đã có rất nhiều thay đổi tiến bộ, nhưng vẫn bị xếp vào nền nông nghiệp lạc hậu. Vấn đề quan trọng nhất của nhà nông bây giờ không còn là nhất nước nhì phân, mà phải là nhất giống, nhì phân, tam cần tứ nước. Nhà nông ngày nay khi gieo trống, họ luôn quan tâm và chọn loại giống nào cho năng xuất cao, chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao. Hạt giống chất lượng, không mang mầm bệnh, có sức kháng rầy, kháng bệnh sẽ đem lại mùa lúa bội thu cho nhà nông. Hôm nay, Chúa Giêsu cũng dùng hình ảnh hạt lúa mì gieo vào lòng đất để nói về sự hy sinh, tự hiến của Ngài : Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Chúa Giêsu chính là hạt lúa mì được Thiên Chúa Cha gieo vào thế gian. Ngài đã chấp nhận hạ mình mang lấy thân phận con người, chịu mục nát bởi sự giới hạn trong thân phận con người, và nhất là chấp nhận cái chết trong phận con người để làm trổ sinh một mùa lúa mới, một dòng giống mới. Khi nghe các môn đệ báo là có những người Hy Lạp muốn gặp, Chúa Giêsu trả lời : Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! Giờ Chúa Giêsu nói đến chính là thời điểm vinh quang của Thiên Chúa được tỏa rạng, Danh Chúa được muôn dân nhận biết. Giờ ở đây là thời Thiên Chúa thực hiện việc quy tụ con cái của Ngài từ muôn dân, muôn nước trở nên một dân duy nhất. Nhưng đặc biệt hơn nữa, Chúa Giêsu muốn nói đến giờ Ngài hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại qua cuộc tử nạn và phục sinh, mà Ngài đã dùng hình ảnh để so sánh : Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không chết đi thì nó chỉ trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ cho được sự sống đời đời. Với hình ảnh này, Chúa Giêsu cho thấy cuộc thương khó và cái chết của Ngài sẽ không rơi vào vô ích, nhưng sẽ đem lại sự sống mới cho nhân loại. Chúa Giêsu, khi được Thiên Chúa Cha gieo vào trần gian với sứ mạng giải thoát con người khỏi sự ràng buộc của ma quỷ, tội lỗi và sự chết, Ngài đã âm thầm thực thi sứ mạng ấy trong vâng phục và từ bỏ chính mình để rồi hôm nay, Ngài thấy những mầm sống, những tia hy vọng đầu tiên hé nở qua việc những người dân ngoại tìm đến với Ngài. Chấp nhận mang thân phận hạt lúa mì, thì cũng đồng thời phải chấp nhận nghịch lý “được và mất” : Ai yêu mạnh sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất mạng sống ở đời này, thì sẽ giữ được sự sống đời đời. Đây là một nghịch lý nhưng không hề vô lý, nghịch lý này chỉ dành cho những ai nhận ra giá trị vĩnh cửu của Nước Trời và sự sống đời sau mới dám đánh đổi như thế. Chúa Giêsu chấp nhận nghịch lý này khi hy sinh mạng sống, chấp nhận cái chết đau đớn, nhục nhã vì tội nhân loại và Thiên Chúa Cha đã trả lại cho Ngài sự sống lại trong vinh quang và còn đặt Chúa Giêsu làm Đấng Kitô và là Chúa tể trên trời và dưới đất. Thiên Chúa Cha đã chấp nhận của lễ là sự yêu mến và vâng phục của Chúa Giêsu, sự vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, đã là một hành động tôn vinh Danh Chúa và Thiên Chúa còn tiếp tục làm rạng Danh Ngài qua chính Người Con yêu quý của Ngài là Chúa Giêsu. Như thế, giờ tự hiến của Chúa Giêsu trên thập giá sẽ là giờ chiến thắng của uy quyền Thiên Chúa trên ma quỷ, của sự sống trên sự chết, của ân sủng và tình yêu trên tội lỗi và hận thù, đồng thời cũng là thời điểm Satan và các thế lực của nó sẽ bị loại trừ vĩnh viễn. Một lần nữa, Chúa Giêsu nói về việc Ngài sẽ bị chết treo, nhưng cái chết treo này sẽ không còn là nỗi ám ảnh sợ hãi cho con người, cũng không còn phải là sự nguyền rủa của Thiên Chúa nữa nhưng sẽ là đỉnh cao, là điểm quy tụ lôi kéo mọi người quay về với Thiên Chúa : Một khi được giương cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên cùng tôi. Với cái chết treo trên thập giá, Thiên Chúa sẽ thiết lập một giao ước mới với một dân mới được Thiên Chúa yêu thương, điều này đã được Giêrêmia loan báo trước từ lâu : Ta sẽ lập với nhà Israel và Giuđa một giao ước mới,…Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng lề luật của Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân Ta. Từ đây, dân mới là Hội Thánh, trong đó có mỗi chúng ta, được Thiên Chúa yêu thương cách riêng và Ngài đã ghi khắc lề luật của Ngài trong mỗi chúng ta, để từ đây, chúng ta hoàn toàn thuộc về Chúa mà thôi. Nghịch lý của hạt lúa mì vẫn mãi là đòi hỏi và thách thức cho mỗi người : Là cha mẹ, chúng ta càng cảm nhận được nghịch lý này đang là một thách thức cho mỗi gia đình. Thế gian kéo chúng ta về một cuộc sống dễ dãi, buông thả, không cần cố gắng, không phải hy sinh, nhưng trái tim và ơn gọi làm cha mẹ lại đòi chúng ta phải chấp nhận hy sinh, tiêu hao cuộc đời, sinh lực, tâm trí, khả năng cho cho gia đình, cho con cái, với hy vọng tương lai hạnh phúc sẽ đến với con cháu mình. Hơn thế nữa, ơn gọi làm con Chúa và ơn gọi nên thánh thúc đẩy chúng ta phải chấp nhận tiêu hao cả con người cùng với sự hy sinh từng ngày để vun đắp hạnh phúc và đời sống đức tin cho con cháu. Hãy chấp nhận mục nát cái tôi ích kỷ, nhỏ nhen để vun đắp cho gia đình thêm ấm cúng, thuận hòa. Hãy chôn vùi vĩnh viễn những đam mê như rượu chè, cờ bạc, nghiện ngập, những lời nói chua ngoa hay những lời chửi bới tục tĩu để cho lòng nhân ái bao dung được nảy mầm, cho hạnh phúc được đơm bông kết trái. Nếu cha mẹ dám chấp nhận một cuộc sống lương thiện, ngay thẳng thật thà, thì họ sẽ gặt được những hoa trái là những đứa con lương thiện. Nếu cha mẹ dám chấp nhận mục rã, hủy bỏ sự ươn lười của mình, họ sẽ gặt được những đứa con chăm ngoan. Nếu cha mẹ siêng năng trong đời sống đạo đức và công tác tông đồ, thì hoa trái của họ sẽ là những đứa con đạo hạnh, nết na. Cha mẹ nào cũng muốn hy sinh cho con, vì con, nhưng có những sự hy sinh uổng phí hoặc là hy sinh không đúng chỗ. Có người hy sinh vất vả chỉ để kiếm tìm cơm bánh cho con, mà lại quên vun đắp cho gia đình mình ấm cúng, thuận hòa, hạnh phúc. Có những người chỉ lo tìm kiếm của cải vất chất mà quên xây dựng đời sống đạo đức và tâm hồn cho con cái. Những hy sinh như thế là chưa đúng và còn là uổng công. Là những người Công Giáo, đôi khi chúng ta cảm thấy mình bị thua thiệt so với những người khác, chỉ vì chúng ta muốn trung thành với Chúa Giêsu và giao ước mới của Ngài. Chúa Giêsu đòi chúng ta phải sống triệt để quy luật của hạt lúa mì, chấp nhận mục rã ở đời này để được hạnh phúc đời đời mai sau. Trong khi người đời chạy theo xu hướng hưởng thụ buông thả, nghiện ngập ăn chơi, thì chúng ta lại chấp nhận từ bỏ và tiết chế. Trong khi người đời tìm kiếm sự giàu sang vật chất thì chúng ta lại tìm kiếm gia tài trên trời ; và trong khi người đời dửng dưng, vô cảm với nhau, thỏa mãn trên sự nghèo khổ của anh em thì chúng ta lại đang muốn sống quan tâm, chia sẻ và cảm thông. Đó chính là quy luật của hạt lúa mì. Quy luật này phải là lý tưởng sống cho mỗi người trong thời đại hôm nay. Mang thân là hạt lúa mì, mỗi người còn phải chấp nhận một sự nghiền nát, nhào nặn và đốt nóng để trở thành tấm bánh được dâng lên Thiên Chúa mỗi ngày trên bàn thờ, để tôn vinh Thiên Chúa, đem lại ơn cứu độ cho mình và cho mọi người ; đồng thời còn là tấm bánh được bẻ ra cho anh em. Xin cho chúng ta dám bẻ thời giờ, sức khỏe, tuổi trẻ, khả năng, của cải, lương thực để chia sẻ và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho anh em. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT IV MC B

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015
YÊU ĐẾN NỖI BAN TẶNG CON MÌNH CHO THẾ GIAN
Các nhà nghiên cứu cho thấy ngày nay, xu hướng gia đình ít con ngày càng tăng. Người ta thường cho rằng : Ít con để nuôi dạy cho tốt. Tuy nhiên, các nghiên cứu dường như cho kết quả ngược lại và không phải cứ đông con là con cái hư hỏng, mà đa số các trường hợp con cái hư hỏng lại rơi vào những gia đình ít con. Không khó để giải thích cho vấn đề này. Với các gia đình Châu Á, việc có ít con sẽ biến những đứa con thành “lá ngọc cành vàng”, thành “cậu ấm cô chiêu”, được cha mẹ chiều chuộng, lo cho từ A đến Z. Vì thế, cha mẹ vô tình biến những đứa con của mình thành những ông hoàng, bà chúa, muốn gì được nấy ; đến nỗi cha mẹ không dám nặng lời la mắng hay sửa dạy, cũng không dám rời con, biến con mình thành những con Kanguru ở trong lòng mẹ dù đã khôn lớn.
Thiên Chúa là Cha, Ngài chỉ có một Người Con duy nhất là Chúa Giêsu. Vậy mà, Thiên Chúa đã không hề chiều chuộng Con của Ngài. Vì yêu thế gian, Ngài đã trao tặng Người Con ấy cho nhân loại, để nhân loại nhờ Người mà được cứu độ. Hôm nay, Tin Mừng Gioan đã khẳng định : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời.
Khi trao tặng Con Một cho thế gian, Thiên Chúa đã chấp nhận mọi rủi ro xảy đến cho Con của Ngài, và còn chấp nhận việc Con của Ngài sẽ bị thế gian phản đối, từ chối. Đúng như thế, nhân loại đã chiều theo lối sống dễ dãi, buông mình theo dòng chảy của thế gian và sự dữ từ chối điều thiện, điều lành. Đại diện cho cả nhân loại đón nhận Con Thiên Chúa làm người chính là dân Do Thái. Dù là một dân được tuyển chọn và được chuẩn bị từ lâu, nhưng dân Do Thái đã không ngừng phản bội lại Thiên Chúa và sứ mạng của họ.
Sách Sử Biên Niên tóm tắt một gian đoạn lịch sử của Israel, là một chuỗi những phản bội, thất trung của hàng lãnh đạo là các tư tế. Đáng lẽ, họ phải là những người dẫn dắt dân Israel đi theo đường lối của Thiên Chúa, nhưng ngược lại, chính họ đã sống bê tha, học đòi theo lối sống của dân ngoại, làm cho đền thờ ra ô uế, dân chúng ra hư hỏng. Thiên Chúa đã nhiều lần sai các tiên tri đến để sửa dạy, uốn nắn lại đời sống của họ cho phù hợp với ý Chúa, nhưng họ đã từ chối phục thiện và còn chống đối và giết hại những người Chúa sai đến. Trước sự ngỗ nghịch, cứng đầu của họ, Thiên Chúa đã cảnh cáo họ bằng việc để cho dân ngoại xâm chiếm, cướp phá và bắt họ đi làm nô lệ.
Thiên Chúa giống như người Cha vì quá thương con, không nỡ nhìn thấy con mình đau khổ, Ngài đã dùng một ông vua dân ngoại là Kyrô tuyên bố cho Israel được hồi hương, khôi phục lại đất nước và còn cung cấp vật liệu giúp họ phục hồi lại Giêrusalem sau nhiều năm bị bỏ hoang tàn. Với những hành động yêu thương như thế, Israel dường như vẫn không tỉnh ngộ để nhận ra tình yêu thương của Thiên Chúa, họ vẫn cứ nghiêng chiều về điều xấu. Thiên Chúa đã cho chính Con Một của Ngài đến để nói cho họ về tình yêu của Thiên Chúa, và để yêu thương họ đến tận cùng.
Trong câu chuyện với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã cho ông thấy trước hình ảnh Con Thiên Chúa sẽ bị treo lên để đem lại ơn cứu độ cho tất cả những ai tin Ngài. Khi nhắc lại sự kiện ông Môsê treo con rắn nơi hoang địa như dấu chỉ để ai tin vào Thiên Chúa mà nhìn lên con rắn bằng đồng, thì được cứu, Chúa Giêsu đã muốn nói trước đến cái chết thập giá của mình. Con rắn đồng trong hoang địa chỉ là dấu chỉ cho những ai tin vào Thiên Chúa và lời của Môsê thì được cứu thoát khỏi rắn cắn, còn khi Chúa Giêsu bị treo lên, Ngài sẽ kéo mọi người đến với Ngài và ai đến với Ngài, tin vào Ngài thì đón nhận được sự sống và ơn cứu độ từ chính Ngài ban tặng cho kẻ ấy.
Chúa Giêsu đã diễn tả tình yêu quảng đại của Thiên Chúa khi nói : Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Ngài, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời. Yêu đến nỗi ban con một tức là yêu không tính toán thiệt hơn, không cân nhắc so đo, là dám trao tặng tất cả. Khi trao ban Con Một cho nhân loại, Thiên Chúa đã chấp nhận trao ban cả “khúc ruột” của mình cho nhân loại. Con một là người con thừa tự, là tương lai và hy vọng của người cha, vậy mà Thiên Chúa đã không hề hối tiếc khi quyết định trao tặng Người Con ấy cho nhân loại. Chúa Giêsu trở nên một trong chúng ta, chia sẻ cùng một kiếp người và mọi đau khổ, buồn vui với con người chúng ta.
Thiên Chúa có quyền và có thể kết án con người vì những tội lỗi họ gây ra, nhưng Thiên Chúa đã không làm như thế, mà Ngài để cho con người có quyền tự do chọn lựa số phận cùng đích của mình : thuộc về Thiên Chúa hay đứng về phía đối nghịch, đứng về phía ánh sáng hay bóng tối. Số phận của mỗi người sẽ là bất hạnh hay hạnh phúc, hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ và quyết định của mỗi người. Ai quyết định sống theo chân lý thì thuộc về ánh sáng, còn ai để mình chìm trong bóng tối, thì phải chịu cảnh mù lòa, tối tăm đời đời.
Thánh Phaolô đã xác tín vào tình yêu của Chúa khi chia sẻ với Cộng đoàn Ephêsô : Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu thế gian, dù chúng ta có chết vì tội lỗi hoặc bị ma quỷ lôi kéo, Người vẫn cho chúng ta được sống cùng với Chúa Kitô. Điều đó cho thấy lòng quảng đại, bao dung của Thiên Chúa thì lớn hơn tội của chúng ta. Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương không phải vì chúng ta đáng yêu, hay bởi chúng ta đã làm được điều gì đó, nhưng chỉ vì lòng quảng đại và tình yêu vô hạn của Chúa mà thôi. Thiên Chúa luôn mong muốn chúng ta sống cho xứng đáng với tình yêu của Ngài, tin và đón nhận Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô.
Tin, là đòi chúng ta phải chấp nhận bước theo con đường và sự hướng dẫn của Chúa. Ngài dẫn chúng ta đi con đường của Tám mối phúc thật, tức là con đường phải cố gắng hy sinh, phải từ bỏ chính mình cùng với sự lôi cuốn, hấp dẫn của danh vọng, của cải, thế gian. Ngài muốn chúng ta phải luôn làm mới lại con người và cuộc sống bằng việc sám hối canh tân, bằng yêu thương tha thứ, bằng quan tâm chia sẻ.
Đến Con mình mà Thiên Chúa còn chẳng tiếc với ta, thì tại sao chúng ta vẫn cứ nấn ná, hồ nghi lòng quảng đại, tha thứ của Chúa mà chưa trở về để lãnh nhận ơn tha thứ ? Đừng bao giờ thất vọng về tình trạng của mình, dù chúng ta có tội lỗi đến mấy thì Thiên Chúa vẫn sẵn sàng thứ tha ; cũng đừng ỷ nại để rồi chúng ta không cố gắng sửa chữa những sai lầm và không quyết tâm làm lại cuộc đời. Cũng vì ỷ nại như thế, mà nhiều người đã vuột mất cơ hội sửa chữa sai lầm. Mùa chay là mùa tốt nhất để mọi người thực hiện quyết tâm của mình, đừng để mùa chay qua đi vô ích mà hãy bắt đầu làm một việc gì đó cụ thể cho mình và cho người bên cạnh.
Hãy quyết tâm bước ra khỏi bóng tối của sự mờ ám trong công việc, trong hành động của mình, bằng việc tập sống và làm việc tốt với một lương tâm ngay thẳng, một tâm hồn thanh thản, đừng nuôi dưỡng sự giận dữ và thù oán với anh em, mà hãy tập nghĩ tốt, giải thích tích cực những việc làm của anh em, điều đó sẽ giúp giảm bớt đi những nghi kỵ. Hãy kiềm chế miệng lưỡi, đừng nói những điều thiếu suy nghĩ, gây tổn thương hoặc gieo nghi kỵ cho nhau, mà hãy nói với nhau bằng lời nói chân thành mang tính xây dựng.
Các bậc cha mẹ hãy đem gia đình mình ra khỏi bóng tối của cãi vã, giận dỗi, bằng cách chiếu sáng gia đình bằng niềm vui, tiếng cười và sự thứ tha. Hãy cứu gia đình và con cái mình khỏi tình trạng khô khan, nguội lạnh bằng cách tái lập nếp sống đạo đức của từng thành viên và của gia đình, siêng năng đến với Thánh lễ và các Bí tích, và lập nên những giờ kinh, giờ cầu nguyện chung của gia đình.
Chúng ta là con của ánh sáng, chúng ta đừng sợ khi sống trong ánh sáng, đừng ngại khi làm việc tốt, đừng sợ khi phải thể hiện mình là người con Chúa, là người được Chúa yêu thương. Hãy để Đức Kitô loại trừ khỏi tâm hồn những bóng tối của đam mê và dục vọng, sống vượt lên trên con người cũ với bản năng thấp hèn ; sống thân tình với Đức Giêsu như với bạn hữu. Nhờ đó,  Ngài sẽ dẫn dắt cho mỗi quyết định và hành động của chúng ta và đưa ta tới hạnh phúc đích thực. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc


Bản gợi ý xét mình xưng tội

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015
 Bản gợi ý xét mình xưng tội của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Mùa Chay
WHĐ (28.02.2015) – Trong Mùa Chay, người Công giáo luôn được khuyến khích đến với bí tích Giải tội. Để giúp các tín hữu xét mình chuẩn bị xưng tội, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra một số gợi ý.
Sau khi giải thích ngắn gọn về lý do tại sao cần phải xưng tội –“bởi vì chúng ta đều là những người tội lỗi”– Đức Thánh Cha đặt 30 câu hỏi cho việc xét mình để có thể xưng tội “cách tốt nhất”.
Bản hướng dẫn xét mình này là một phần của tập sách 28 trang bằng tiếng Ý do nhà xuất bản Vatican phát hành. Đức Thánh Cha Phanxicô đã tặng 50.000 tập sách cho các tín hữu tham dự buổi đọc kinh Truyền tin trưa Chúa nhật 22 tháng Hai vừa qua, Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay.
Tập sách có nhan đề “Hãy bảo vệ tâm hồn”, nhằm giúp các tín hữu có thêm sức mạnh bước vào cuộc chiến đấu chống lại sự dữ và chọn sự lành.
Tập sách gồm những điều căn bản trong đạo: Kinh Tin Kính, các ơn Chúa Thánh Thần, Mười Điều Răn và Tám Mối Phúc Thật. Sách cũng giải thích về bảy bí tích và lectio divina –một cách cầu nguyện bằng Kinh Thánh– để nghe được rõ hơn “Chúa muốn nói gì với chúng ta” và “để chúng ta được Chúa Thánh Thần biến đổi”.
Nhan đề của cuốn sách lấy ý từ một bài giảng trong Thánh lễ ban sáng của Đức Thánh Cha, trong đó ngài nói rằng người Kitô hữu phải gìn giữ và bảo vệ tâm hồn mình, “cũng giống như bảo vệ ngôi nhà - bằng một ổ khóa”.
Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Những tư tưởng xấu, những ý định xấu, những ganh tị và thèm muốn có hay vào nhà chúng ta không? Ai mở cửa cho chúng? Làm cách nào chúng vào được?”
Bài giảng trong Thánh lễ hôm 10-10-2014, cũng được trích in trong tập sách này, nói rằng cách tốt nhất để bảo vệ tâm hồn là xét mình mỗi ngày, để xem mình đã làm điều gì xấu, đã thiếu sót điều gì tốt đối với Chúa, với tha nhân và với chính mình.
Một số câu hỏi gợi ý trong bản hướng dẫn xét mình như sau:
– Tôi có trở về với Chúa khi tôi gặp khốn khó không?
– Tôi có tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc không?
– Tôi có cầu nguyện sáng tối không?
– Tôi có hổ thẹn khi tỏ mình là người Kitô hữu không?
– Tôi có đi ngược lại chương trình của Thiên Chúa không?
– Tôi có ganh tị, nóng nảy, thiên kiến không?
– Tôi có trung thực và công bằng với mọi người hay tôi cổ võ cho “nền văn hóa vứt bỏ” ?
– Trong các mối tương quan hôn nhân và gia đình, tôi có sống đạo đức như Phúc Âm đã dạy không?
– Tôi có kính trọng cha mẹ không?
– Tôi có chối bỏ cuộc sống mới được tượng thai không? Tôi có tiêu huỷ hồng ân sự sống không? Tôi có cộng tác vào việc ấy không?
– Tôi có tôn trọng môi trường không?
– Tôi có vừa theo Chúa vừa theo thế gian không?
– Tôi có quá độ trong việc ăn uống, hút thuốc và giải trí không?
– Tôi có lo lắng quá mức về đời sống vật chất và của cải không?
– Tôi sử dụng thời giờ như thế nào? Tôi có lười biếng không?
– Tôi có đòi người khác phải phục vụ mình không?
– Tôi có mong muốn báo thù, nuôi dưỡng thù hận không?
– Tôi có hiền lành, khiêm tốn và xây dựng hòa bình không?
Đức Thánh Cha nói, người Công giáo cần phải xưng tội, bởi vì ai cũng cần được tha thứ tội lỗi, tha thứ những cách “chúng ta suy nghĩ và hành động trái với Phúc Âm”.
“Ai bảo mình vô tội thì người ấy là kẻ nói dối hoặc bị mù”.
Xưng tội chính là lúc hoán cải chân thành, là lúc bày tỏ niềm tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng sẵn sàng tha thứ cho con cái mình và giúp chúng quay về con đường theo bước Chúa Giêsu.
(CNS)

Minh Đức

CHÚA NHẬT III MC B

NHIỆT THÀNH VỚI THIÊN CHÚA VÀ NHÀ CỦA NGÀI
Theo thống kê, cả nước ta có khoảng 7000 lễ hội lớn nhỏ khác nhau, được chia thành các loại : lễ hội dân gian, lễ hội mang tính tôn giáo hoặc tín ngưỡng, lễ hội mang tính cách quốc gia… Báo chí đã nhiều lần đề cập đến những lễ hội quá bạo lực, tranh giành, cướp bóc, đánh nhau phải cấp cứu như Lễ hội Làng Gióng vừa qua.   Có những lễ hội quá dã man như Lễ hội Chọi trâu, Chém lợn. Có những lễ hội bị phàm tục, biến thái như Lễ hội Đền Trình. Những lễ hội này đang dần mất đi ý nghĩa tôn giáo và văn hóa, nó biến thành nơi tranh giành, bạo lực, cờ bạc và nhiều thứ trá hình khác nữa. Chính quyền chấp thuận và khuyến khích nhiều lễ hội không phải vì nhu cầu văn hóa, tâm linh cho bằng họ muốn lấp đầy một khoảng trống tâm linh trong xã hội Duy Vật Vô Thần. Nhưng có lẽ lý do khác hơn mà nhiều người có thể nhìn thấy, đó là những người có trách nhiệm càng tổ chức lễ hội càng có nhiều tiền, nhiều nguồn lợi. Việc buôn thần bán thánh, các hình thức thu lợi tại các lễ hội này cũng khiến cho lễ hội ngày càng lộn xộn.
Ngày xưa, luật của Thiên Chúa được ban cho con người không phải vì lợi ích cho Thiên Chúa, nhưng là để uốn nắn và điều khiển hành vi của con người, giúp con người sống tương quan tốt đẹp đối với Chúa và tạo nên cuộc sống hài hòa giữa con người với nhau. Khi ban cho Israel lề luật, Thiên Chúa không dùng luật để trói buộc Israel, nhưng là muốn tiếp tục bảo vệ Israel như Ngài đã từng bảo vệ và đã dùng sức mạnh để đưa họ ra khỏi đất Ai Cập. Như thế, việc Israel chu toàn luật của Thiên Chúa còn là để thể hiện lòng yêu mến, biết ơn đối với tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa. Cũng vậy, việc thờ phượng Thiên Chúa của Israel là để thể hiện lòng trung thành của họ đối với Thiên Chúa, phát xuất từ lòng tôn kính và biết ơn. Tuy nhiên, các thầy thượng tế và những người lãnh đạo Israel đã biến các ngày lễ tôn thờ Thiên Chúa trở thành dịp để thu lợi hơn là dịp để tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa.
Hàng năm, lễ Vượt qua là lễ buộc mọi người từ khắp nơi phải trở về Giêrusalem. Mỗi gia đình phải dâng của lễ tạ ơn Thiên Chúa, nộp vào đền thờ các phần hoa lợi trong năm, đồng thời thi hành các tục lệ và nghi thức ăn tiệc vượt qua. Để kiếm lợi, các thầy thượng tế đã  tổ chức đổi tiền ngay tại sân đền thờ, đồng thời buôn bán những con vật để làm của lễ như chiên, bò, chim câu. Họ làm như thế để thu lợi nhuận và áp dụng bảng giá chặt chém không khác gì các lễ hội ngày nay. Thấy cảnh ồn ào, hỗn loạn và phàm tục đang diễn ra ngay trong sân nhà Thiên Chúa, Đức Giêsu đã không thể chấp nhận, Ngài đã xô đổ bàn ghế của họ, lấy dây làm roi để xua đuổi chiên bò ra khỏi đền thờ. Ngài còn cảnh cáo họ rằng : Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán.
Xua đuổi những người đổi tiền và những người buôn bán ra khỏi đền thờ là Chúa Giêsu đã đụng chạm đến tầng lớp thế lực là các thượng tế và luật sĩ. Làm như thế, chắc chắn Chúa Giêsu sẽ bị chống đối, nhưng vì lòng yêu mến Thiên Chúa thúc đẩy, Chúa Giêsu đã hành động quyết liệt như vậy, vì Ngài không chấp nhận con người nhân danh Thiên Chúa để tìm kiếm lợi lộc cá nhân, biến nơi thánh thành nơi phàm tục, biến những việc thiêng thánh thành hàng hóa buôn bán. Việc buôn bán, đổi chác tại đền thờ phản ánh sự bắt tay và buôn bán với sự dữ và sự xấu, là một thỏa thuận, đồng lõa ngay từ trong tâm hồn. Những người này đã dùng Thiên Chúa và các việc đạo đức như là cái màn che cho mình, biến Thiên Chúa thành nguồn lợi cho cá nhân mình.
Những người Do Thái đã chất vấn Chúa Giêsu : Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy ông có quyền làm như thế ?  Họ muốn xem một dấu lạ chứng tỏ Chúa Giêsu là người của Thiên Chúa, thực hành công việc của Thiên Chúa và là người được Chúa sai đến để tái lập trật tự, canh tân việc thờ phượng và là người bảo vệ sự thánh thiện của nhà Thiên Chúa. Trước đòi hỏi của những người Do Thái, Chúa Giêsu đã báo trước cho họ một dấu lạ : Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại. Những người Do Thái và kể cả các tông đồ khi đó cũng chưa thể hiểu được lời của Chúa Giêsu, họ nghĩ là Chúa muốn nói về đền thờ Giêrusalem. Chúng ta còn nhớ khi tố cáo Chúa Giêsu để gây sức ép tử hình Ngài, họ đã cắt xén lời này của Chúa Giêsu và tố cáo Người rằng : Tên này đòi phá hủy đền thờ Giêrusalem. Sau này, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các tông đồ mới hiểu điều Chúa nói hôm nay muốn ám chỉ đền thờ là thân xác Ngài.
 Có nhiều kẻ chứng kiến các phép lạ thì tin vào Người, nhưng Người không tin họ, vì Người biết họ hết thảy… chính Người biết những gì trong lòng con người. Điều đó nhắc cho chúng ta rằng, khi con người tin và đến với Thiên Chúa thì cần phải có một thái độ chân thành và yêu mến thực sự, vì Chúa biết rõ lòng con người. Chúng ta có thể che mắt người đời qua cái vỏ đạo đức thánh thiện, nhưng chúng ta không thể che mắt Thiên Chúa, vì Ngài thấu suốt tâm hồn và suy nghĩ của mỗi người.
Bài đọc một cho chúng ta nghe lại những điều luật mà Thiên Chúa đã ban cho Israel và đã ký kết với họ như một giao ước. Bộ luật này đòi con người phải dành cho Thiên Chúa một vị trí ưu tiên tuyệt đối, không thể bắt cá hai tay, không thể vừa tôn thờ Thiên Chúa lại đồng thời cúng bái thần minh dân ngoại hoặc những thần minh vật chất như tiền bạc, danh vọng. Đồng thời, luật này cũng đòi con người phải chu toàn những bổn phận đối với nhau vì Danh Thiên Chúa. Vì vậy, khi xúc phạm đến nhau là xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Nếu Israel tuân giữ luật của Chúa, thì Thiên Chúa mãi mãi che chở, bảo vệ họ và còn nhận họ làm dân riêng của Ngài; ngược lại, nếu bất tuân, họ sẽ bị hủy diệt. Cam kết là như thế, nhưng thực ra, dân Israel đã mau chóng bỏ qua giới răn, lề luật của Thiên Chúa, quên ơn Thiên Chúa. Họ thờ cúng các thần minh của dân ngoại và quay lại chống đối Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn không hủy diệt họ mà Ngài cứu họ bằng cách cho Con của Ngài là Chúa Giêsu đến để cứu nhân loại qua cái chết trên thập giá.
Thư Corintô cho thấy, Chúa Giêsu chịu đóng đinh là trọng tâm của mọi lời rao giảng của các tông đồ, dù điều này khiến cho người Do Thái khó chịu hoặc những người Hy Lạp khó chấp nhận. Tác giả cho thấy, Chúa Giêsu, qua hy tế thập giá, Ngài đã vình viễn chấm dứt các việc tế tự tại đền thờ Giêrusalem và chấm dứt cả sứ mạng của đền thờ. Từ đây, nơi Thiên Chúa ngự không còn là đền thờ nữa mà là chính con người, thân xác của chúa Giêsu, Ngài là đền thờ Thiên Chúa và chính Ngài đã dâng chính mình là hy lễ đền tội cho toàn nhân loại. Chỉ những ai được ban ơn mới có thể hiểu và đón nhận mầu nhiệm này của Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tin và đón nhận Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa, là Đấng canh tân việc thờ phượng Thiên Chúa. Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta cần có thái độ tôn trọng sự thánh thiện của Thiên Chúa và đền thờ của Ngài, dành cho Chúa sự kính trọng, tôn thờ cả hình thức bên ngoài lẫn tâm tình bên trong. Hãy nhiệt thành với Thiên Chúa và thanh luyện thái độ của bản thân trong việc thờ phượng Thiên Chúa. Hãy dành cho Chúa một lòng yêu mến chân thành được thể hiện qua việc tôn kính, thờ phượng Chúa mỗi ngày. Đừng bao giờ so sánh hoặc đặt Chúa ngang hàng với tiền bạc, của cải, nhưng phải dành cho Chúa một sự ưu tiên tuyệt đối, nhất là đừng bao giờ dùng Thiên Chúa và việc đạo đức bên ngoài để che đậy sự giả dối và những gian tham bên trong.
Gia đình là đền thánh của Thiên Chúa đang bị nhiều người coi thường và biến thành nơi phàm tục, nơi buôn bán và hang trộm cướp bởi sự gian dối, bê tha, bởi lối sống hưởng thụ, ích kỷ. Hãy thanh tẩy đền thờ gia đình của mình, đừng để bất cứ tiền bạc hay của cải vất chất làm hoen ố đời sống gia đình, làm méo mó các tương quan giữa cha mẹ và con cái.
Trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội, mỗi chúng ta được thánh hiến để trở nên đền thờ của Thiên Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn mình khỏi tội lỗi và những thói quen xấu. Hãy gạt bỏ khỏi mình những film ảnh, sách báo và những trang web xấu xa, vì nó hủy hoại tâm hồn chúng ta và nó là thủ phạm bôi bẩn linh hồn là đền thờ Thiên Chúa. Hãy trang hoàng đền thờ Thiên Chúa nơi chúng ta bằng những việc bác ái, hy sinh, việc lành, việc tốt ; những việc làm nhân ái, những cử chỉ đẹp. Nhất là hãy thường xuyên gặp gỡ Thiên Chúa trong tâm hồn qua cầu nguyện và sống trong sự hiện diện của Chúa.
Xin Chúa giúp chúng ta siêng năng đến với Bí tích Giải tội để được tình yêu của Thiên Chúa thanh tẩy chúng ta khỏi tội lỗi và thêm ơn giúp chúng ta sống và bảo vệ linh hồn và thân xác chúng ta trong sạch, xứng đáng là con cái Thiên Chúa. Amen.

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc


CHÚA NHẬT II MC B :

 TÌM LẠI PHẨM GIÁVÀ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA NƠI MÌNH
Có một người chặt củi trên rừng tình cờ bắt được một tổ chim có một quả trứng bên trong. Anh liền đem quả trứng về nhà cho con gà ấp. Ít lâu sau, quả trứng nở ra một chú phượng hoàng con rất đẹp. Tuy nhiên, vì được ấp bởi một con gà và vì chung quanh mình cũng chỉ là những chú gà nên phượng hoàng con không hề biết mình là phượng hoàng. Ngày ngày, chú theo đàn gà đi kiếm ăn như những con gà khác. Một ngày kia, ngước lên trời, chú thấy có những con chim giống mình đang sải cánh bay lượn trên bầu trời. Những con chim kia bay lại và nói với phượng hoàng con rằng : Mi không phải là loài gà, mà là phượng hoàng, là vua của các loài chim, mi phải giang rộng đôi cánh để bay lên bầu trời chứ không thể theo sau đàn gà như thế được. Soi mình dưới dòng suối, quả thật chú thấy mình không giống gà tí nào mà lại giống những cánh phượng hoàng trên bầu trời. Chú tự tin giang cánh và lấy hết sức mình để bay lên cao. Kể từ đó, chú phượng hoàng giũ bỏ kiếp làm gà để trở thành phượng hoàng tung bay trên bầu trời.
Thưa quý OBACE, các bài đọc Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người phải trở về và khôi phục lại phẩm giá đích thực của mình là những người con của Thiên Chúa, mà tội lỗi và những lôi kéo của thế gian đã làm chúng ta quên mất ơn gọi và phẩm giá cao quý đó. Ơn gọi và phẩm giá này, chúng ta đã nhận được nhờ Người Con Duy Nhất của Thiên Chúa là Chúa Giêsu đã chết và sống lại để ban cho chúng ta.
Tin Mừng hôm nay cho thấy, Thiên Chúa Cha đã long trọng tái khẳng định Chúa Giêu là Con yêu quý của Ngài trước mặt các Tông đồ là những chứng nhân. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu đem theo những tông đồ thân tín nhất lên một ngọn núi cao. Ở đó, Ngài tỏ lộ vinh quang của một vị Thiên Chúa trước mắt các ông. Dù trước đây đã được đi theo Chúa, được chứng kiến các phép lạ Chúa làm và nghe những lời giảng dạy của Chúa, nhưng có vẻ các Tông đồ vẫn chưa hoàn toàn xác tín vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế. Vì cũng giống như nhiều người Do Thái khác, các ông cũng chỉ mong đợi một Đấng Cứu Thế quyền lực chứ không muốn một Đấng Cứu Thế khiêm nhu như một người tôi tớ.
Trong cuộc biến đổi hình dạng này, Chúa Giêsu muốn cho các Tông đồ thấy rằng, Ngài không chỉ là một vị Thầy quyền năng, nhưng ẩn khuất nơi con người của Ngài còn là mội vị Thiên Chúa. Tin Mừng đã diễn tả vinh quang Thiên Chúa bằng cách so sánh : Áo Người trở nên rực rỡ trắng tinh, không có thợ giặt nào của trần gian có thể giặt được như thế. Tác giả Tin Mừng còn kể tiếp : Các môn đệ thấy ông Elia và ông Môse hiện ra đàm đạo với Chúa Giêsu. Sự xuất hiện của hai gương mặt lớn thời Cựu Ước, Êlia và Môsê, đại diện cho Lề luật và các Ngôn sứ, nói lên rằng : Tin Mừng nhận ra Chúa Giêsu chính là trung tâm, là Đấng mà toàn bộ Cựu Ước hướng tới.
Các Tông đồ hết sức hạnh phúc khi chứng kiến cuộc biến đổi hình dạng của Thầy mình. Các ông ngây ngất khi được nếm hưởng một chút vinh quang Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Simon Phêrô và các Tông đồ muốn kéo dài mãi giây phút hạnh phúc ấy. Các ông đã xin được cắm lều ở lại luôn trên núi. Tuy nhiên, mục đích của Chúa Giêsu khi cho các Tông đồ thấy vinh quang Thiên Chúa nơi Ngài là để chuẩn bị cho các ông đón nhận biến cố tử nạn khổ giá sắp tới. Từ trong đám mây bao phủ, có tiếng phán : Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người. Lời này chắc chắn Thiên Chúa Cha muốn nói với các Tông đồ, vì chung quanh không còn ai khác. Thiên Chúa Cha muốn các Tông đồ vâng lời Chúa Giêsu, lời đó là lời nào ? Từ trên núi xuống, Chúa Giêsu bắt đầu nói với các ông về cái chết và sự sống lại của Ngài. Đó là điều các Tông đồ không hiểu, không muốn, nhưng lại là điều các ông phải chấp nhận, cần vâng nghe và đón nhận khi sự việc xảy ra.
Qua biến cố biến hình, Thiên Chúa Cha không chỉ giới thiệu Con của Ngài cho các Tông đồ, mà Ngài như muốn trao nộp người Con ấy cho nhân loại : Đây là Con ta yêu dấu. Việc trao nộp này dù là một đau đớn, mất mát, nhưng vì yêu thương nhân loại mà Thiên Chúa đã chấp nhận cuộc trao đổi để Con Một của mình trở nên một con người trong nhân loại, trở nên một hy lễ đền tội và để đón nhận cả nhân loại làm con của mình.
Lời của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng dễ dàng để vâng nghe. Ngày xưa, tổ phụ Apbraham đã vâng nghe lời Thiên Chúa đến tột cùng, ông không hối tiếc để dâng đứa con duy nhất cho Thiên Chúa, dù tâm hồn ông đau đớn, nát tan. Thiên Chúa đã thử ông khi Ngài nói : Ngươi hãy đem người con duy nhất của người là Isaac, mà dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho. Mặc dù đau đớn trong lòng, dù phải chính tay sát tế con mình, thế nhưng vì vâng phục Thiên Chúa hoàn toàn, Apraham đã không một lời oán trách Thiên Chúa, ông đã hoàn toàn vâng nghe lời Chúa truyền dạy.
Thiên Chúa chỉ thử thách sự vâng phục của Apbraham. Ngài không nỡ để ông mất hết hy vọng, Ngài đã hiểu được tấm lòng của Apbraham và đã trả lại đứa con cho ông. Không chỉ thế, để đáp lại thái độ sẵn sàng vâng nghe của Apbraham, Thiên Chúa một lần nữa lặp lại lời cam kết với ông : Ta sẽ giáng phúc cho ngươi và sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên như sao trên trời và như cát bãi biển. Đó chính là phần thưởng cho những ai yêu mến và vâng phục Thiên Chúa.
Thánh Phaolô đã nhận ra tình yêu thương và lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa dành cho những ai vâng nghe lời Chúa Giêsu truyền dạy, khi cho thấy rằng, Thiên Chúa không bao giờ hẹp hòi với con người ; trái lại, Ngài luôn quảng đại, yêu thương và tha thứ, vì : Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng ban tất cả cho chúng ta ?
Thiên Chúa vì yêu thương nhân loại mà chấp nhận một cuộc trao đổi. Ngài ban tặng Chúa Giêsu, Con của Ngài cho thế gian và đón nhận mỗi chúng ta làm con của Ngài. Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta thực sự được thanh tẩy và trở nên con Thiên Chúa. Tuy nhiên, tội lỗi và những lôi kéo của thế gian và sự lừa đảo của ma quỷ đã khiến cho nhiều người quên mất ơn gọi và phẩm giá làm con Thiên Chúa của mình. Nhiều người đã để tội lỗi làm cho hình ảnh của Thiên Chúa nơi mình bị biến dạng hoặc lu mờ. Nhiều người khác đã để thế gian lôi kéo làm quên lối về, hoặc do sống buông thả kiến họ mãi cứ lầm lũi như con phượng hoàng đi theo đàn gà trong câu chuyện kể trên.
Mùa Chay chính là dịp để mỗi người soi lại mình trong tấm gương là Chúa Giêsu, để nhận ra địa vị làm con Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã đem lại cho chúng ta, để mỗi người hãy sống tâm tình con thảo với Thiên Chúa Cha như Chúa Giêsu đã sống. Thiên Chúa không đòi chúng ta điều gì hơn, là muốn chúng ta vâng phục và yêu mến Ngài. Vâng phục Thiên Chúa không làm cho chúng ta trở nên thấp kém hay vong thân, nhưng trái lại, khi vâng phục Thiên Chúa, chúng ta được gieo mình vào vòng tay yêu thương và được sự bảo bọc của Thiên Chúa là Cha. Cũng vậy, Chúa muốn chúng ta yêu mến Ngài không phải vì Ngài cần đến tình yêu của chúng ta, nhưng khi yêu mến Chúa, chúng ta sẽ đón nhận được sức sống và được sống trong Chúa.
Giống như ngày đầu năm mới, chúng ta làm mới lại nhà cửa, con người. Cũng vậy, mùa Chay là mùa để mỗi người làm mới lại bản thân trước mặt Thiên Chúa, lau chùi khỏi chúng ta những bụi bặm của lối sống lười biếng, hời hợt, cũ kỹ để mang lấy một thái độ mới, một lối sống mới. Hãy làm mới lại tương quan của chúng ta với Chúa qua việc thanh tẩy mình khỏi những dơ bẩn của tội lỗi để đến với Chúa với một tâm hồn trong sạch, hiếu thảo. Điều quan trọng Chúa muốn nơi chúng ta là hãy vâng nghe lời của Chúa Giêsu, Con của Ngài.
Hãy để tai và để tâm lắng nghe lời Chúa mỗi ngày trong Thánh lễ, vì nơi đây, Lời Chúa được dọn sẵn cho mỗi người, phù hợp cho từng hoàn cảnh sống của con người. Lời Chúa cũng cần được lắng nghe nơi gia đình qua các giờ kinh sớm tối. Hãy để cho Lời Chúa thấm vào tâm hồn và hướng dẫn mọi công việc, toan tính và hành động, giúp mỗi người chu toàn bổn phận của mình theo ý Chúa.
Xin Chúa qua sự bầu cử của Mẹ Maria, cho mỗi người nhờ vâng nghe lời Chúa, được thanh luyện mỗi ngày nên tốt đẹp hơn, nên xứng đáng là con yêu dấu của Chúa hơn, giúp chúng ta ngẩng cao đầu và tung cánh bay trong bầu trời yêu thương của Thiên Chúa. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT I MC B

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015
THIÊN CHÚA MUỐN CỨU BẠN
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng, các con sông lớn trên thế giới chính là nơi phát sinh các nền văn hóa của con người. Dòng sông Nil tạo nên nền văn minh Aicập, văn minh của vùng Trung đông phát xuất từ hai con sông lớn Tigre và Euphơrat. Ở Châu Á, có con sông Hằng của Ấn Độ và con sông Mekong chảy qua Việt Nam cũng đã tạo nên những vùng văn minh và cư dân sinh sống. Những dòng sông này không chỉ là nơi phát sinh sự sống, mà cho đến nay, chúng vẫn là nguồn nuôi dưỡng sự sống cho những nơi chúng chảy qua. Gần đây, Trung Quốc, Thái Lan và Cambodia đã có kế hoạch xây những con đập trên dòng sông Mekong. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng Việt nam sẽ bị thiếu nước, sẽ không có lũ hàng năm đem phù sa bồi đắp cho cộng đồng, sẽ ảnh hưởng nguồn tôm cá… Các cuộc thương lượng giữa các nước cũng có những lúc gay go và có nguy cơ xảy ra tranh chấp.
Thưa quý OBACE, từ cổ chí kim, ai cũng thấy rằng nguồn nước rất quan trọng cho sự sống còn của một vùng miền. Có nước mới có sự sống của các loài và người ta luôn đi tìm nguồn nước để bảo tồn sự sống. Người ta cũng thấy sức mạnh của những dòng sông này không gì có thể ngăn cản được. Hằng năm, dòng lũ của các con sông này đã gây ngập lụt, phá hủy nhà cửa, mùa màng, nhưng đồng thời nó cũng đem phù sa bồi đấp cho đất đai thêm màu mỡ.
Các bài đọc của Chúa nhật thứ nhất mùa chay hôm nay cũng cho chúng ta thấy sức mạnh của dòng nước. Trước hết là dòng nước hồng thủy trong Cựu Ước, dòng nước này đã phá hủy, cuốn trôi, và nhấn chìm tất cả tội lỗi của con người. Kinh Thánh kể lại bằng một hình ảnh rất quen thuộc : Khi ấy, tội lỗi của loài người đã tràn ngập mặt đất, con người càng ngày càng xa rời Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dùng nước hồng thủy để tiêu diệt hết dòng giống tội lỗi trên mặt đất này và tạo lập nên một dòng giống mới từ Noe và con cháu ông. Đồng thời, bài đọc hôm nay cho thấy Thiên Chúa thật nhân từ. Ngài ra tay đánh phạt con người vì tội, nhưng rồi Ngài lại xót thương, thậm chí Thánh Kinh còn dám nói rằng : Thiên Chúa “hối tiếc” về những việc đã làm với con người, nên Ngài đã ký kết một giao ước với Noe, để từ đây, Ngài sẽ không bao giờ hủy diệt, tàn phá mặt đất như thế nữa. Một giao ước hoàn toàn có lợi cho con người, chứ không có lợi gì cho Thiên Chúa. Một Thiên Chúa chiến thắng, nhưng lại cúi xuống để ký giao ước với con người. Để bảo đảm cho lời cam kết này, Thiên Chúa lại còn chấp nhận như “gác vũ khí” : Ta gác cây cung của ta lên mây và đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa ta với cõi đất. Điều đó muốn nói rằng, Thiên Chúa sẽ không bao giờ dùng vũ khí của Ngài để tiêu diệt con người nữa.
Nếu như dòng nước hồng thủy đã xóa sổ nhân loại cũ và tội lỗi của nó, thì theo thánh Phêrô, dòng nước phát xuất từ cạnh sườn của Đức Kitô trên thập giá, đã hình thành nên một dân mới là Hội Thánh. Dòng nước của Bí tích Thánh tẩy đã tẩy sạch mọi tội lỗi của thể xác và tâm hồn chúng ta. Dòng nước này đã được Đức Giêsu dùng cái chết và sự phục sinh của Ngài bảo đảm và mang lại sự sống mới cho con người. Ngài đã dùng dòng nước từ cạnh sườn Người để làm cho chúng ta nên công chính, nên sạch sẽ trước mặt Thiên Chúa và còn nên con cái của Thiên Chúa. Vì thế, những người đã được thanh tẩy bởi dòng nước này được mời gọi gìn giữ linh hồn và thân xác của mình luôn trong sạch trước mặt Thiên Chúa và luôn sống xứng đáng với danh nghĩa là con Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng cho thấy, sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Thánh Thần đã thúc đẩy Người vào hoang địa, sống trong chay tịnh và cầu nguyện để tìm thánh ý của Thiên Chúa. Thánh Marco chỉ nói lướt qua về việc Chúa chịu Satan cám dỗ, nhưng cũng đủ cho thấy hoang địa chính là nơi để gặp gỡ Thiên Chúa, song cũng là nơi con người sẽ phải đối diện với những cám dỗ của Satan. Đức Giêsu đã vào hoang địa với sự hướng dẫn của Thánh Thần, và chính Thánh Thần luôn hiện diện trong cuộc đời của Đức Giêsu để thêm sức mạnh cho Ngài, giúp Ngài chọn lựa con đường cứu chuộc nhân loại bằng đau khổ thập giá, bằng vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa Cha.
Thánh Marcô cũng cho thấy : Trong hoang địa, Chúa Giêsu sống giữa các loài dã thú và có các thiên sứ hầu hạ Người. Chi tiết này gợi lại hình ảnh của vườn địa đàng ngày xưa, khi Ađam Eva sống thuận thảo với Thiên Chúa. Họ được hưởng một khung cảnh, một tình trạng thật hạnh phúc, sống với các thiên thần và hòa thuận với mọi dã thú. Sau khi phạm tội, nguyên tổ đã phá hủy tình trạng hạnh phúc ban đầu, gieo thù oán giữa con người với nhau và gây xáo trộn giữa con người với dã thú, thiên nhiên và vạn vật. Nay Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vâng phục chương trình của Thiên Chúa, cũng chính Ngài tái lập lại khung cảnh và tình trạng hạnh phúc mà nguyên tổ đã đánh mất. Ngài sống giữa các thiên thần và dã thú, và tất cả đều hầu hạ, phục vụ người.
Đức Giêsu với quyền lực và sự thúc đẩy của Thánh Thần đã khởi đầu sứ mạng của Ngài. Ngài rao truyền Tin Mừng của Thiên Chúa, Tin Mừng tình thương và cứu độ. Sứ mạng của Gioan đã chấm dứt, phép rửa của Gioan không đủ sức tha thứ tội lỗi, nay đã đến thời Thiên Chúa ra tay thực thi những điều Ngài đã hứa, đó là thời của tình thương và cứu độ, của giải thoát và tha thứ. Để đón nhận được tình thương cứu độ, con người phải thực lòng sám hối và tin vào Tin Mừng, phải có một quyết tâm thay đổi và hoán cải, phải có một thái độ tích cực, đó là tin và đón nhận Tin mừng của Đức Kitô. Đón nhận Đức Kitô là chấp nhận bước theo sự hướng dẫn, dạy bảo của Ngài, có như thế mới có thể bước vào được vương quốc của Thiên Chúa, nói cách khác là vào được Nước Trời.
Thưa quý OBACE, chúng ta đã được sức sống mới từ dòng nước của Bí tích Rửa tội. Dòng nước ấy tẩy rửa tội lỗi chúng ta, xóa bỏ tình trạng tội lỗi con người cũ và cho ta được gia nhập và sống trong triều đại của Thiên Chúa. Qua dòng nước rửa tội, chúng ta được hưởng ơn giải thoát, ơn cứu độ, đồng thời được nhận sức mạnh của Thánh Thần để chúng ta có thể chiến thắng những cám dỗ của satan. Sức mạnh của Thánh Thần còn giúp ta nhận ra và thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Mùa chay là dịp để chúng ta tái khẳng định lòng trung thành của chúng ta đối với Chúa, trung thành với giới ră,n lề luật của Ngài, sống đúng với tư cách làm con của Thiên Chúa và là thành viên của Nước Trời. Cụ thể, mỗi người hãy quyết tâm chu toàn cách tốt đẹp bổn phận thờ phượng Thiên Chúa, đặc biệt ngày Chúa nhật, dâng lễ một cách tích cực hơn và siêng năng đọc kinh tối gia đình.
Mùa chay này, Thánh Thần cũng sẽ đưa chúng ta vào sa mạc của tâm hồn, để ở trong thinh lặng, chúng ta có thể gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện và chay tịnh, hãm mình và hy sinh. Thực hiện chay tịnh để làm chủ con người mình, vượt thắng những cám dỗ của ma quỷ, dục vọng và thế gian. Để thắng được ma quỷ, dục vọng, cần phải có ơn Chúa và sự nỗ lực, kiên trì trong cầu nguyện, trong sự gắn bó thân mật với Chúa. Mỗi người hãy quyết tâm loại bỏ đi một vài tật xấu đã quen phạm, bằng cách tập những tính tốt, thói quen tốt, làm một vài việc hy sinh bác ái cụ thể như là một quyết tâm của cá nhân trong mùa chay này.
Các bậc làm cha mẹ hãy tận dụng dòng sông ơn thánh của mùa chay này để tẩy rửa nếp sống và các sinh hoạt của gia đình. Hãy rửa sạch khỏi gia đình những cãi vã, bê tha, lười biếng ; trang hoàng lại không phải căn nhà của mình, mà phải trang hoàng lại gia đình của mình bằng những nếp sống mới tốt hơn, ấm cúng hơn.
Các bạn trẻ, đừng ngại ngần với mùa chay thánh này. Thiên Chúa luôn muốn cứu chúng ta chứ không muốn trừng phạt. Ngài luôn cho chúng ta cơ hội để đổi mới. Nhưng để Thiên Chúa có thể cứu chúng ta, thì đòi chúng ta phải đưa tay ra cho Ngài nắm lấy. Hãy vượt qua sự ngại ngùng, lười biếng để đến với nguồn nước cứu độ là các Bí tích, nhất là Bí tích Giải tội và Thánh Thể, Chúa giúp các bạn tẩy rửa và vượt thắng được những cám dỗ của ma quỷ, dục vọng, thế gian và những lôi kéo của xã hội hôm nay.
Xin Chúa cho mỗi người biết sử dụng thời gian thánh thiện của mùa chay này để làm mới lại cuộc sống và cả con người của mình nên tốt đẹp hơn.  Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc
  

MỒNG MỘT TẾT ẤT MÙI 2015

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

TẠ ƠN VÀ CẦU BÌNH AN CHO NĂM MỚI
Người Việt Nam chúng ta có một tập tục rất đẹp, đó là sáng sớm mồng một tết, chuẩn bị ít thức ăn hoặc trái cây và một ít hoa tươi, đứng trước Bàn Thiên ở cửa nhà hoặc Bàn thờ Tổ tiên trong gia đinh để thắp lên một nén nhang với lòng thành biết ơn trời đất và tổ tiên ông bà.
Kính thưa quý OBACE, đối với người Việt Nam Công Giáo, tập tục tốt đẹp ấy được thể hiện trong giờ phút đầu tiên của năm mới này. Chúng ta họp nhau nơi đây không phải trước Bàn Thiên mà là trước tôn nhan Thiên Chúa, để dâng lên Chúa tâm tình Tạ Ơn và cầu xin Chúa ban cho một Năm Mới bình an ; đồng thời, nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng điều khiển cả vụ trụ này và tất cả mọi việc xảy ra đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Cũng vì thế, con người luôn luôn cảm thấy mình nhỏ bé và hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa. Sự lệ thuộc vào Thiên Chúa không làm hạ thấp giá trị con người, nhưng lại làm gia tăng phẩm giá của con người. Vì mỗi chúng ta đã được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng, cứu chuộc, được nhận làm con và Thiên Chúa còn quan phòng ban cho muôn điều kỳ diệu, tốt đẹp cho mỗi người.
Các bài đọc được chọn cho ngày Mồng Một Tết nhắm đến các ý tưởng ấy. Trước hết, bài đọc sách Sáng Thế nhắc lại cho chúng ta về công trình tạo dựng của Thiên Chúa : Chính Ngài dựng nên trời đất, tinh tú muôn loài và cũng chính Ngài là Đấng điều khiển bốn mùa luân chuyển, thay đổi nối tiếp nhau, làm nên nhịp sống cho con người và phân định thời gian cho vũ trụ. Cũng mặt trời ấy, cũng ánh nắng ấy, nhưng những ngày đầu năm này, mọi sự dường như khác, từ vạn vật đến con người như đang khoác lên mình một bộ áo mới, một sức sống mới của mùa xuân sau những ngày mùa đông lạnh giá. Cũng chính vì thế, mọi người đều muốn bắt đầu một năm mới với một sự đổi mới, một kế hoạch mới và một quyết tâm mới. Song vì con người ý thức được rằng “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, kế hoạch là của mỗi người đưa ra, song sự thành hay bại còn do trời ban hay nói theo ngôn ngữ nhà đạo của chúng ta đó là : Con người cố gắng với hết khả năng của mình, còn kết qủa thì phó dâng cho Chúa. Ý thức như thế để chúng ta không quá cậy dựa vào sức mình, nhưng biết khiêm nhường tạ ơn Thiên Chúa về những thành quả chúng ta đã đạt được và bằng lòng với những gì Chúa ban, đồng thời cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho những dự tính của chúng ta trong năm mới.
Trong bài đọc hai, Thánh Phaolô đã khuyên cộng đoàn Philipphê hãy luôn vui mừng và tín thác vào Thiên Chúa. Niềm vui cũng là ước nguyện của ngày đầu năm : Anh em hãy vui luôn trong Chúa ! Tôi nhắc lại một lần nữa : Anh em hãy vui lên… Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, hãy trình bày ước vọng lên cùng Chúa.  Như thế có nghĩa là chúng ta sẽ vẫn phải sống và làm việc, vẫn gặp những thành công và thất bại, vui và buồn, nhưng khác ở chỗ là dù trong những hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn giữ được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn. Niềm vui và sự bình an này là bình an vì có Chúa ở trong chúng ta, và tin rằng Chúa đang điều khiển cuộc đời mình. Chúng ta cũng vẫn phải lo toan cho cuộc sống, song chúng ta không lo lắng theo kiểu của những người không có niềm tin, nhưng lo liệu công việc trong sự trợ giúp của Thiên Chúa và làm mọi công việc thường ngày trong tinh thần cầu nguyện, tin tưởng, phó thác. Khi sống và làm việc như thế, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm vui trong chính công việc của mình và sẽ thấy tâm hồn mình thực sự bình an.
Ước nguyện Bình an cho gia đình là một trong những ước nguyện đầu tiên của năm mới. Thế nhưng, để có bình an, mỗi người phải nỗ lực thật nhiều. Trước hết là phải tìm được sự bình an trong tâm hồn. Sự bình an này đến từ Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban tặng. Đó là sự bình an của một tâm hồn thanh thản trước mặt Thiên Chúa, một tâm hồn được thứ tha và chữa lành nhờ Bí tích Giải tội, luôn sống thuận thảo với Chúa. Chúng ta chỉ thực sự bình an khi không để mình sống trong tình trạng thù nghịch tội lỗi trước mặt Thiên Chúa, siêng năng gặp gỡ Thiên Chúa trong công việc, trong cầu nguyện và trong các việc phụng thờ Thiên Chúa.
Kế đến là sự bình an đối với nhưng người chung quanh, tức là phải dám gỡ khỏi tâm hồn mình những bất hòa, những bất đồng và xung khắc đối với vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh em, láng giềng. Bước đến với nhau trong sự tha thứ, làm hòa và thông cảm, đây cũng là nét đẹp của người Việt Nam. Năm mới, cũng cần phải đổi mới lại tương quan tình nghĩa giữa những người thân và anh em, gạt bỏ đi những tranh chấp để đến với nhau và nhìn nhau một cách chân tình hơn, hãy can đảm nói với nhau một lời xin lỗi và tha thứ.
Ước nguyện bình an trong công việc là một ước nguyện thật tốt, vì ai làm nghề gì thì cũng mong muốn được thuận lợi, bình an. Bình an ở đây không chỉ là tránh khỏi rủi ro tai nạn, mà còn ước mong bình an trong mọi việc. Sự bình an này chỉ có ở những con người có những cách làm việc tôn trọng sự công bằng và bác ái, tôn trọng sự thật, không gian dối, không lừa đảo và biết tôn trọng quyền lợi của người khác. Kinh doanh buôn bán với một lương tâm ngay thẳng như thế thì mới có được sự bình an trong công việc và bình an trong tâm hồn.
Thịnh vượng là một trong những ước nguyện đầu năm, giàu có sung túc là một ước muốn tốt đẹp. Theo truyền thống của Kinh Thánh thì sự giàu sang còn là dấu chỉ chúc lành của Thiên Chúa. Thế nhưng làm giàu bằng cách nào và sử dụng sự giàu sang Chúa ban như thế nào mới là điều quan trọng.
Bài Tin Mừng hôm nay chỉ cho chúng ta cách thế sống và vui hưởng những của cải Chúa ban, đó là tin tưởng và phó thác tất cả cho Chúa : Đừng lo lắng cho ngày mai vì ngày mai sẽ lo cho ngày mai. Nói như thế không có nghĩa là chúng không lo lắng và không suy nghĩ đầu tư. Chúng ta không được phép ỷ nại vào sự quan phòng của Chúa để lười biếng, nhưng cũng đừng lo lắng quá mức về cái ăn cái mặc cho ngày mai, như kiểu của người không có niềm tin : Chúng ta sẽ ăn uống gì mặc gì ? Trái lại, chúng ta biết lo liệu và tin rằng Thiên Chúa là cha, Ngài biết những nhu cầu, những ước muốn của chúng ta ngay trước khi chúng ta mở miệng cầu xin và Ngài sẽ trợ giúp chúng ta. Vì thế, hãy sống thật tốt giây phút hiện tại của ngày hôm nay và vui hưởng những gì Chúa ban cho ngày hôm nay.
Chúa vẫn lưy ý chúng ta rằng dù ăn gì, uống gì và làm gì thì cũng vẫn cần có một ưu tiên tuyệt đối đó là : Tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các điều khác Chúa sẽ ban cho. Tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính có nghĩa là lo tìm kiếm và làm giàu trước mặt Thiên Chúa ; đừng chỉ làm giàu của cải vật chất, nhà cửa xe cộ mà để mình nghèo nàn công phúc trước mặt Chúa. Nhiều người cầu nguyện đầu năm cho gia đình mình thịnh vượng vật chất, mà quên cầu xin cho mình và gia đình được giàu có thịnh vượng trước mặt Thiên Chúa. Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là làm nhiều việc lành và công phúc, việc lành ở đây chính là những việc tông đồ, bác ái, là công việc phục Chúa và phục vụ anh em. Làm giàu trước mặt Chúa còn là những việc hy sinh thầm lặng, hy sinh tiền của, thời giờ, sức khỏe cho Chúa. Những công việc cụ thể như thế sẽ làm cho chúng ta trở nên giàu có, thịnh vượng trước mặt Thiên Chúa.
Cầu chúc cho mọi người, mọi gia đình một Năm Mới đầy tràn Bình an của Chúa và sự Thịnh vượng,  không chỉ của cải vật chất mà là thịnh vượng, giàu có của cải thiêng liêng trước mặt Thiên Chúa. Cầu chúc cho mọi gia đình luôn hạnh phúc vì có Chúa ở cùng. Amen.


Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

ĐÊM GIAO THỪA ẤT MÙI 2015:

TẠ ƠN TRỜI ĐẤT
Thưa quý OBACE,
Ai đã có những lần xa nhà, xa quê và đón giao thừa dương lịch ở nơi xứ người thì sẽ thấy khác biệt giữa giao thừa dương lịch và giao thừa âm lịch của chúng ta. Có thể giao thừa tết tây, dù pháo hoa bắn rợp trời nhưng lòng người xa quê vẫn thấy xa xôi. Trái lại mỗi năm, người Việt Nam chúng ta ai cũng chờ đợi giây phút linh thiêng của đêm giao thừa âm lịch. Mỗi người như cảm nhận, như đụng chạm được đến thời khắc thiêng liêng chuyển giao của năm cũ và năm mới. Tiễn năm cũ qua đi với bao buồn vui, tiếc nuối lẫn lộn, đón năm mới đến với lo âu và hy vọng,… Tất cả những tình cảm ấy đang đan xen trong mỗi chúng ta.
Giây phút này là giây phút thảnh thơi nhất trong năm, vì lúc này đây, mọi người như tạm gác lại những lo toan của năm cũ để đón chào một năm mới với hy vọng đổi mới tốt hơn. Lúc này cũng là dịp mỗi người nhìn lại trách nhiệm của mình với gia đình, với cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè. Có thể nói rằng, nếu ngày cuối năm dương lịch là ngày người ta tổng kết công việc, thì ngày cuối năm âm lịch là dịp mọi người tổng kết lại các mối tương quan trong cuộc sống.
Sang năm mới, ai cũng muốn gia đình mình giàu sang và hạnh phúc, đó là mơ ước thật chính đáng. Thế nhưng, làm thế nào để cho gia đình mình giàu sang và hạnh phúc thì mỗi người lại có những suy nghĩ, cách thực hiện và ưu tiên khác nhau. Cụ thể có nhiều người đặt hạnh phúc làm ưu tiên số một, còn có nhiều người lại lấy sự giàu sang làm chính. Vì chỉ quan tâm đến tìm kiếm sự giàu sang, nên nhiều người đã lơ là việc xây dựng và vun trồng hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là điều tự nhiên mà có, nó cũng không đương nhiên xuất hiện trong gia đình cùng với sự giàu sang, mà nó là hạt giống, là cây mầm, đòi mỗi người phải vun tưới mỗi ngày. Hoa trái hạnh phúc phải là kết quả của sự chung tay đóng góp của mọi thành viên. Tuy nhiên, vì lo tìm kiếm sự giàu sang, nên nhiều người đã quên yếu tố hạnh phúc, đã để tình cảm yêu thương giữa cha mẹ và con cái trở nên lỏng lẻo, thiếu quan tâm, thiếu thông cảm và lắng nghe. Nhiều gia đình đã để cho tình yêu vợ chồng trở nên nhạt nhẽo và bầu khí gia đình trở nên lạnh giá, thiếu vắng nụ cười, thiếu vắng niềm vui.
Lúc này chính là lúc mỗi người cần nhìn lại và quyết tâm đặt lại thứ tự ưu tiên cho gia đình. Có thể gia đình mình chưa giàu sang, nhưng gia đình ấm cúng thì vẫn hạnh phúc hơn gia đình giàu sang. Nhiều tiền nhiều của mà nghèo nụ cười, thiếu niềm vui thì bầu khí gia đình lạnh lẽo. Chúng ta cũng cần nhìn lại tương quan của chúng ta với cha mẹ, nhất là với cha mẹ già, đôi khi vì sự thiếu kiên nhẫn với các ngài, trong lúc các ngài tuổi cao sức yếu, mà chúng ta đã có những lời lẽ bất kính, những thái độ coi thường hoặc khinh khi các ngài. Chúng ta cần điều chỉnh lại để sống cho tròn chữ hiếu, để cho cha mẹ được hạnh phúc trong tuổi già, không phải khóc vì tủi thân. Là cha mẹ, chúng ta cũng cần xem lại thái độ của chúng ta với từng đứa con. Chúng ta đã đem đến cho con cái một môi trường gia đình an toàn và hạnh phúc chưa ?
Kế đến, chúng ta cũng cần nhìn lại mối tương quan với anh em họ hàng, bạn bè. Dường như cuộc sống ngày nay quá bận rộn khiến anh em họ hàng chẳng mấy khi có dịp đến thăm nhau, thậm chí một năm cũng chỉ được ngày tết đến với nhau mà cũng vội vàng như làm nghĩa vụ. Như thế, thì chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, anh em họ hàng sẽ như người xa lạ ; con cháu, họ hàng gặp nhau cũng như người dưng, chẳng còn thân thiết nữa. Dịp tết là dịp để chúng ta làm cho tình nghĩa anh em họ hàng xóm ngõ thêm đậm đà, gắn bó, hiểu nhau hơn, quý mến nhau hơn. Hãy dành giờ thăm viếng nhau, hàn huyên tâm sự với nhau trong bầu khí ấm áp của những ngày xuân này, vì mỗi người sống là sống trong tình liên đới với nhau.
Mối tương quan quan trọng nhất mà giây phút giao thừa này chúng ta cần nhìn lại, đó là tương quan của chúng ta với Trời Đất. Nhìn lại để biết sống tâm tình trân trọng và biết ơn. Trời Đất, trước hết là môi trường sống của tất cả mọi người, là môi trường thiên nhiên xung quanh mà chúng ta cần trân trọng, bảo vệ và làm cho trong lành, tốt đẹp hơn. Cụm từ “Tạ ơn Trời Đất”, dù mang nghĩa dân gian, song với người Kitô hữu, đó còn là kiểu nói để diễn tả lòng biết ơn của chúng ta với Đấng Tạo Hóa là Thiên Chúa của chúng ta, Đấng làm chủ và điều khiển cả vũ trụ này.
Tạ ơn Chúa vì phúc lành Chúa hằng thương ban, tạ ơn vì mưa thuận gió hòa, vì tai qua nạn khỏi, vì buôn bán làm ăn thuận lợi, thành công, vì gia đình ấm cúng. Tạ ơn Chúa vì Chúa thương gìn giữ mỗi người và mỗi gia đình, đó là lời Thánh Phaolô đã mời gọi trong bài đọc hai : Anh em hãy cầu nguyện không ngừng và hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, điều gì tốt thì giữ lại và điều gì xấu hãy tránh cho xa. Tâm tình này cũng là tâm tình Môse nói với Aaron và con cháu ông : Các ngươi hãy chúc lành cho con cái Israel, hãy nói với chúng thế này : Xin Chúa chúc lành cho con và gìn giữ con, xin Chúa tỏ thánh nhan Chúa cho con và thương xót con. Xin ghé mặt lại cùng con và ban bằng yên cho con. Thiên Chúa là Đấng tốt lành, Ngài luôn muốn và làm điều tốt cho con người. Khi Chúa ghé mắt nhìn đến ai là Ngài yêu thương, quan phòng, che chở và bảo vệ người ấy, giống như Ngài đã ghé mắt đến Apbraham, Isaac và Giacóp để làm cho các ông trở thành các tổ phụ vĩ đại. Ngài đã ghé mắt đến vua Đavít từ khi ông còn là một đứa trẻ theo sau đàn vật để dẫn đưa ông trở thành một vị vua của Israel. Ngài đã ghé mắt đến Đức Maria để làm cho Mẹ trở thành một tạo vật tuyệt hảo nhất trong mọi tạo vật.
Để được Chúa ghé mắt đến, được Chúa chúc lành, mỗi người phải dám sống những đòi hỏi của các mối phúc mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng. Ngày hôm nay, con người dường như tìm kiếm và chạy theo tiền bạc, của cải. Trong khi chúng ta muốn phô trương sự giàu sang phú quý, thì Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta : Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ. Lời chúc phúc này cho thấy của cải vật chất ở trần gian cần thiết cho cuộc sống, nhưng nó lại hoàn toàn không thể đem đến hạnh phúc thật cho con người. Chỉ có Thiên Chúa và Nước Trời mới là hạnh phúc thật, mà chỉ những người có tâm hồn khiêm nhường, nghèo khó, khao khát thì mới tìm được. Ngày hôm nay, cuộc sống cạnh tranh khốc liệt, kẻ mạnh là kẻ thắng thế, kẻ giàu có là người có tiếng nói, kẻ nắm giữ quyền lực là người chi phối người khác. Chúa Giêsu lại chúc phúc cho những người sống hiền lành. Chỉ những người hiền lành, trong lòng không chất chứa sự gian ác, sống ngay thẳng thật thà, đặt trọn niềm tin tưởng nơi Chúa, không chạy theo danh vọng quyền lực, mới là những người xứng đáng được ở trong vương quốc của Chúa. Cũng thế, những người được hưởng phúc lành của Thiên Chúa, được Chúa ghé mắt nhìn đến là những người đau buồn, đói khát điều công chính. Những người này không còn cậy dựa vào quyền lực, sức mạnh thế gian nhưng tìm đến sự an ủi, vỗ về của Thiên Chúa.
Thưa quý OBACE, hơn lúc nào hết, trong giây phút giao thừa này, Giáo hội cũng xin Chúa ghé mắt nhìn đến dân Chúa là những người đang thành tâm chạy đến với Chúa. Đến với Chúa trong giờ phút này là chúng ta đang muốn nói lên tâm tình tin tưởng, phó thác và biết ơn vì từng hơi thở, từng nhịp sống của ta là do bởi Chúa điều khiển và quan phòng.
Đến với Chúa trong giờ phút này, để mỗi người khi đã nhận ra tình yêu của Chúa, thì cũng biết điều chỉnh lại cuộc đời của mình để sống thân thiết với Chúa hơn trong năm mới. Quyết tâm đến với Chúa thường xuyên hơn qua việc dâng lễ tạ ơn Chúa mỗi ngày, qua việc xưng tội rước lễ.
Đến với Chúa trong giờ phút linh thiêng này để mỗi người nhìn lại gia đình của mình và dám nhận trách nhiệm về mình. Trong ngày đầu năm này, vợ chồng, cha mẹ, con cái cùng chung tay làm mới lại bầu khí của gia đình. Hãy thay đổi cách sống, cách cư xử với nhau, tái lập lại những bữa cơm thân mật xum vầy, tái lập lại những giờ phút bên nhau cùng tạ ơn Chúa bằng việc đọc kinh, cầu nguyện mỗi tối. Vì, hạnh phúc và niềm vui chỉ đến với những gia đình nào kiên trì với Chúa mà thôi.
Chúc mọi người, mọi gia đình ngập tràn niềm vui và nụ cười, bình an và hạnh phúc của Chúa trong Năm nới này. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc







 

Bai đang học

PHUNG VU GIO KINH

GÍAO HỘI

HỘI ĐỒNG GIÁM MUC

HỘI DONG ĐAMINH TAM HIỆP

SÁCH KINH THÁNH TIẾNG ANH

LOI CHUA TIENG ANH MOI NGAY

ĐÀI CHÂN LÝ

THẮC MẮC VỀ TÔN GIÁO

NHAC LÝ GUITA

SỨC KHỎE

TẢI VIDEO NHANH KHÔNG CẦN PHẦN MỀM

LUYỆN THI TIẾNG ANH

GIẢI TRÍ

HOC ĐÀN

Đăng Ký

Tên

Email *

Thông báo *

Hỗ Trợ Online

Tổng số lượt xem

Lên đầu trang Xuống cuối trang