MÙA PHỤC SINH B (2015) | NIỀM VUI PHỤC VỤ

CHÚA NHẬT VII PS : CHÚA THĂNG THIÊN

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015
TRÁCH NHIỆM LOAN BÁO TIN MỪNG –
Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc đang được coi là một mô hình phát triển năng động tại Châu Á. Như nhiều quốc gia khác trong khu vực, người dân Hàn Quốc cũng bị ảnh hưởng bởi các truyền thống văn hóa, tôn giáo Đông Phương. Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, Giáo Hội Hàn Quốc là nơi có số người trở lại đạo Công Giáo nhiều nhất. Cách đây hai mươi năm, người Công Giáo Hàn quốc chỉ chiếm chừng 7-8% (bằng với Việt nam hiện nay). Họ đang quyết tâm đạt đến mục tiêu 20/20, tức là 20% người Công Giáo vào năm 2020. Thực hiện được kỳ tích này là do nhiều yếu tố cộng lại, từ những chiến dịch cầu nguyện, kết thân với các gia đình lương dân đến các chương trình đồng loạt đến với lương dân, các công tác hỗ trợ đời sống kinh tế của các doanh nhân Công Giáo dành cho nông dân không phân biệt lương giáo đã khiến cho người Hàn có cảm tình và gia nhập đạo.
Tại Việt Nam, trải qua hơn 400 năm, từ khi hạt giống Tin Mừng được gieo vãi đến nay, tỷ lệ người Công Giáo vẫn chỉ dừng ở mức 7 – 8% trong tổng số 80 triệu dân. Thời gian đầu dù có rất nhiều khó khăn, trải qua các cơn bách hại, nhưng số người tin vào danh Chúa Giêsu gia tăng nhanh chóng. Thế nhưng trong vòng 50 – 60 năm trở lại đây, nhất là từ khi cuộc sống kinh tế, xã hội được thoải mái hơn thì dường như số người tín hữu gia tăng không đáng kể.
Giáo phận Xuân Lộc là một trong những giáo phận có tỷ lệ người Công Giáo cao. Số giáo dân trong Giáo phận là gần một triệu người, chiếm khoảng 30 – 35% tỷ lệ dân số trong toàn tỉnh Đồng Nai. Hàng năm, số người lớn được rửa tội lên đến hàng ngàn người, nhưng phần lớn là để kết hôn, còn những người rửa tội vì gương sáng đời sống của người tín hữu thì rất ít. Số người lớn được rửa tội tính trên tỷ lệ trên số tín hữu chỉ chiếm khoảng 0,03%. Đó là một con số quá khiêm tốn, chưa tương xứng.
Mừng lễ Chúa Giêsu Lên Trời, Giáo Hội trình bày cho chúng ta nhiều điểm giáo lý quan trọng, nhưng đặc biệt, nhắc nhở mỗi chúng ta từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân về trách nhiệm sống và loan báo Tin Mừng mà Chúa Giêsu để lại cho mỗi người. Sách Công vụ Tông đồ đã thuật lại sự kiện Chúa Giêsu lên trời như là điểm kết thúc sứ mạng của Ngài và mở ra sứ mạng của Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúa về trời không phải Ngài thoái thác trách nhiệm, cũng không phải Ngài từ bỏ con người, nhưng Ngài hoàn tất nhiệm vụ Thiên Chúa Cha đã trao phó và trở về với Chúa Cha trong vinh quang của Ngài. Chúa lên trời, không có nghĩa là Ngài không còn hiện diện tại trần gian, nhưng là một sự thay đổi cách thức hiện diện. Ngài không hiện diện bằng xương bằng thịt như trước đây, nhưng vẫn hiện diện bằng quyền năng, bằng Thánh Thần và bằng sự quan phòng. Người được cất lên trước mặt các Tông đồ và có đám mây bao phủ lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Hình ảnh đám mây bao phủ lấy Ngài, Thánh Kinh muốn nói rằng, Ngài vẫn hiện diện ở bên mỗi người, chỉ có điều là mắt chúng ta bị mây che phủ nên không nhận ra Ngài.
Chúa về trời để chỉ cho ta rằng, mục đích của mỗi người và quê hương đích thực của chúng ta là Nước Trời. Chúa về trời là một bảo đảm chắc chắn cho tất cả những ai tin theo Chúa, thực hành những điều Chúa dạy, đi theo con đường của Ngài thì cũng sẽ được về trời với Ngài. Ngài là người mở đường, Ngài đi trước để dẫn lối cho chúng ta theo sau. Vì thế, mỗi người phải luôn nhớ hướng tâm hồn và cả con người mình về quê trời, là nơi Thiên Chúa là Cha yêu thương đang đón đợi chúng ta.
Tuy nhiên, việc hướng lòng về trời không làm cho chúng ta coi thường, bỏ quên những công việc và trách nhiệm trần thế. Hai Thiên thần đã hiện ra nói với các môn đệ : Hỡi người Galilê, sao còn mải đứng nhìn trời, hãy trở về Giêrusalem mà làm chứng về Chúa. Điều đó có nghĩa là người Kitô hữu không thể trốn tránh trách nhiệm trần thế, không thể sống lơ lửng trên không, nhưng vẫn phải bước đi trên mặt đất, đối diện với cuộc sống hiện tại cùng với vui buồn sướng khổ, thành bại. Chúng ta cùng bước đi với anh chị em chung quanh, sống trong hy vọng và chờ đợi Chúa trở lại, cùng chia sẻ mọi vui buồn của nhịp sống xã hội, cùng tham gia vào mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục…, để làm cho xã hội và cuộc sống mỗi ngày thêm tốt đẹp hơn.
Sống trong hy vọng phải là thái độ không thể thiếu nơi người tín hữu. Chúng ta không thể để những khó khăn hoặc những đe dọa của con người, của xã hội làm chúng ta mất niềm hy vọng. Niềm hy vọng của người tín hữu không ảo tưởng, nhưng được đặt trên lời hứa của Chúa Giêsu. Ngài hứa sẽ ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, Ngài sẽ trở lại đem chúng ta về với Ngài và chung hưởng hạnh phúc với Ngài.
Từ niềm tin tưởng và hy vọng nêu trên, mỗi người được thúc đẩy thực thi mệnh lệnh của Chúa : Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Mệnh lệnh này mời gọi chúng ta phải liên tục nói về Chúa cho mọi người và mọi loài, đưa Chúa đến với mọi người và đưa mọi người về với Chúa. Việc loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của hết mọi người. Tuy nhiên, nhiều người đã để mình ngủ quên trong nếp sống đạo thường ngày, đánh mất sự thao thức đem Chúa đến cho anh em. Vì thế, họ bằng lòng với những sinh hoạt hiện có mà quên rằng bên cạnh còn rất nhiều người chưa biết Chúa Kitô, chưa có cơ hội để nghe Tin Mừng yêu thương của Chúa.
Có người hỏi rằng : Tại sao anh em Tin Lành rất nhiệt tình để nói về Chúa cho người khác và họ nói một cách say sưa không mệt mỏi, còn người Công Giáo thì không bằng họ ? Đó là điều thực tế mà chúng ta cần tự vấn chính mình và cần sám hối. Chúng ta chỉ có thể nói về Chúa cho người khác khi chúng ta có Chúa, đồng thời, ta chỉ có thể nói về Chúa một cách không mệt mỏi khi chúng ta hoàn toàn xác tín vào Chúa. Trong khi anh em Tin Lành không hề ngại ngùng nói về Chúa Giêsu, thì dường như người Công Giáo lại rất ngại khi nói về niềm tin của mình. Lý do là vì đời sống của họ quá khác với đời sống của Chúa Kitô và của Tin Mừng. Họ sống đạo một cách hời hợt qua lần, không cầu nguyện, không lãnh nhận Bí tích. Nhất là nhiều người không tự tin về vốn giáo lý của mình, bởi vì họ không học hỏi, không trau dồi nên họ tránh né không dám nói về Chúa, không dám mạnh dạn bênh vực niềm tin của mình.
Nguyên nhân sâu xa là vì nhiều người Công Giáo đã không có thói quen đọc và suy niệm Lời Chúa, họ xa lạ với cuốn Kinh Thánh, họ không biết nhiều về Chúa Giêsu nên không thể nói về Chúa Giêsu cho người khác. (Bà Bill Clinton luôn mang bên mình cuốn Kinh Thánh). Nhiều người sống đạo hoàn toàn theo thói quen cha truyền con nối, không có những kinh nghiệm gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa, không yêu mến và không xác tín mạnh mẽ, vì vậy, họ chấp nhận im lặng hoặc thỏa hiệp khi phải nói về Chúa và về niềm tin của mình.
Để có thể mạnh dạn nói về Chúa cho người khác, cần phải có một xác tín thâm sâu, một lòng mến nồng nàn, và một sự nhiệt tâm không mệt mỏi dành cho Chúa. Muốn được như thế, chúng ta cần bắt đầu lại bằng việc siêng năng đến với Chúa qua Thánh lễ, các Bí tích ; siêng năng đọc và gẫm suy Lời Chúa, để cho Chúa biến đổi tâm hồn và con người của mình. Đồng thời, chúng ta cũng cần có một tâm hồn quảng đại với Chúa và với Giáo Hội, dám để cho Chúa sử dụng hết mọi khả năng trí tuệ, sức lực, thời giờ và con người của mình cho chương trình của Chúa.
Xin cho chúng ta cũng bị thôi thúc như thánh Phaolô : Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm, để rồi chúng ta biết ra khỏi chính mình, ra khỏi sự tiện nghi vốn có, dám bước đến với anh chị em để thực thi mệnh lệnh Chúa truyền cho mỗi chúng ta. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc




CHÚA NHẬT V PS:

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015
CÀNH GẮN LIỀN VỚI CÂY Kể từ khi khoa công nghệ sinh học phát triển, người ta đã lai tạo được nhiều loại trái cây và hoa quả có năng xuất và chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu con người. Đến một lúc nào đó, các giống cây, giống lúa kém chất lượng và kém sản lượng sẽ bị loại bỏ. Hôm nay, Chúa Giêsu mượn hình ảnh của người trồng nho và cây nho để nói lên tương quan giữa Thiên Chúa và con người cũng như nói đến sự gắn bó không thể thiếu của con người với Thiên Chúa. Đây là hình ảnh hết sức thực tế và gần gũi: Thầy là cây nho và Cha Thầy là người trồng nho. Thiên Chúa Cha đã trồng cây nho là Chúa Giêsu vào mảnh đất thế gian này. Để như cây nho phải ăn rễ sâu trong lòng đất, chuyển hóa những dưỡng chất trong đất để biến thành trái nho thơm ngọt thế nào, thì Chúa Giêsu cũng thực sự gắn liền và gắn chặn với con người và với thế giớinày như vậy. Ngài không đứng bên ngoài nhưng Ngài thực sự mang lấy tất cả những chua cay, ngọt bùi trong kiếp người, chấp nhận cái chết để làm trổ sinh hoa trái sự sống và ơn cứu độ cho nhân loại. Tuy nhiên, để đón nhận được sự sống mới và ơn cứu độ từ cái chết và sự phục sinh của Chúa, chúng ta phải gắn liền với Chúa Giêsu như cành gắn liền với cây. Trong kỹ thuật ghép cây, gắn liền tức là phải nhận được nhựa sống từ thân cây thông chuyển đến và phải liền da liền mạch và phát triển khỏe mạnh. Cũng vậy, chúng ta được mời gọi phải gắn liền cách chặt chẽ với Chúa Giêsu, tức là đón nhận sự sống thần linh từ Chúa Giêsu và gắn bó không rời khỏi thân cây là Chúa Giêsu. Tuy nhiên, có những cành gắn liền với cây nhưng lại không sinh trái thì cũng không ích gì và sẽ bị cắt bỏ. Cành không sinh hoa trái là do không đón nhận được nhựa sống đầy đủ, tức là để mình sống trong tình trạng èo uột. Đó là tình trạng của những người tuy còn mang danh là Kitô hữu nhưng sống đạo hời hợt. Họ không cầu nguyện, không lãnh nhận bí tích, thì sẽ không thể sinh hoa trái tốt lành. Bí tích Thánh Thể là nhựa sống từ cây nho Giêsu được thông chuyển cho những người gắn bó với Người. Vì thế, những ai để cho Bí tích Giải tội và Thánh Thể nuôi dưỡng thì mới có thể sinh hoa kết trái trong đời sống Kitô hữu được. Chúa Giêsu cho thấy: Nếu đón nhận sức sống từ thân cây nho là Chúa Giêsu thì sẽ giúp trổ sinh hoa trái. Việc tỉa cành tỉa lá sẽ làm cho cành sinh nhiều hoa trái hơn. Muốn có một cây cảnh đẹp, cần phải được uốn và cắt tỉa, muốn cho cây nhiều trái, cũng phải làm như vậy. Con người tự nhiên, cũng như một cây, nếu không được chăm sóc thường xuyên thì tự nó sẽ ra những nhánh thừa, nhánh phụ hoặc quá nhiều lá vô ích. Đời sống người Kitô hữu nếu không được cắt tỉa thường xuyên thì những thói hư tật xấu, những lối sống theo bản năng hoặc theo xu hướng của xã hội sẽ lấn át và làm cho cuộc sống trở nên yếu đuối, bị chi phối bởi những điều tùy phụ mà sao lãng bổn phận chính yếu là trổ sinh hoa thơm trái ngọt. Nhiều cành rậm lá không chỉ ảnh hưởng đến việc sinh hoa trái của chính bản thân, mà còn cản trở việc sinh hoa trái của anh chị em khác. Điều đó, chúng ta có thể thấy nơi câu chuyện của bài đọc một. Cộng đoàn Giêsrusalem bấy giờ đã lớn mạnh, họ tự hào mình là những người đón nhận đức tin trực tiếp từ các tông đồ và nghi ngờ những người khác. Ông Phaolô lúc đó đã trở lại tin theo Chúa, đã cùng ông Baraba đi rao giảng về Chúa Giêsu và đã chia sẻ kinh nghiệm được tháp nhập vào cây nho là Chúa Giêsu cho mọi người. Từ một cây nho hoang dại, sống theo sự nhiệt thành của lề luật cũ, ông Phaolô bắt bớ và làm hại những người tin vào Chúa Giêsu. Đang lúc ông hăng say nhiệt thành với công việc đó, chính Chúa Giêsu đã cắt ông khỏi gốc nho hoang dại và tháp nhập ông vào thân nho Giêsu. Phaolô đã trở nên một con người gắn liền với Chúa Giêsu, đã mau chóng đón nhận được sức sống từ Chúa Giêsu thông ban. Phaolô đã làm trổ sinh hoa trái trong cuộc đời ông qua việc miệt mài với công việc loan báo về Chúa Kitô, đã thành lập nên nhiều giáo đoàn như hoa trái của hành trình tông đồ. Phaolô không chỉ gắn bó với thân nho là Chúa Giêsu mà ông còn hết lòng gắn bó với các tông đồ, tức là Giáo hội. Tuy nhiên, cộng đoàn Giêrusalem vì nghi kỵ đã nhất định từ chối Phaolô, họ không tin lời Phaolô rao giảng. Chỉ khi Banaba đứng ra bảo lãnh và giới thiệu Phaolô trước mặt các tông đồ, ông mới được đón nhận như một thành viên của Giáo hội, như một cành nho mới được tháp nhập vào thân nho. Từ đó, Phaolô tiếp tục dùng hết khả năng và lòng nhiệt thành để làm trổ sinh hoa trái qua việc nhiệt thành rao giảng về Chúa Giêsu. Cành lá dư thừa cần được cắt tỉa. Thiên Chúa là người trồng nho, Ngài sẽ cắt tỉa chúng ta bằng Lời của Ngài. Siêng năng đọc và gẫm suy Lời Chúa sẽ cho chúng ta nhận ra những lối sống sai lạc, là những cành lá dư thừa vô ích. Đồng thời, chúng ta cần can đảm để cho Lời Chúa như dao sắc bén cắt tỉa chúng ta. Ngài sẽ cắt chúng ta khỏi những lối sống dễ dãi của xã hội, Ngài sẽ tỉa chúng ta khỏi những lôi cuốn của dục vọng xác thịt. Thiên Chúa là người trồng nho sẽ dùng Lời để uốn nắn lại đời sống của mỗi người cho phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng. Chúng ta sẽ phải chịu cắt tỉa những gì? Cắt tỉa là từ bỏ khỏi mình những thói hư tật xấu cản trở chúng ta theo Chúa, là từ bỏ những nếp suy nghĩ và lối sống cũ để dám bắt đầu lối sống mới, suy nghĩ mới. Nhiều người cho rằng, con người ngày nay bị rơi vào lối sống vội, sống thực dụng, đua đòi tiêu xài. Nhiều Kitô hữu chỉ còn gắn với Chúa Kitô một cách hời hợt như cây tầm gửi có hại. Họ để mình bị gắn chặt vào những khuynh hướng xấu, vào của cải vật chất,vào những lối sống sai lạc của xã hội hơn là với Chúa. Vì thế, họ đánh giá nhau bởi những cái họ có (to have) hơn là chính bản thân họ là (to be). Họ biến những đồ dùng và của cải vật chất thành điểm tựa cho cuộc đời thay vì phải hoàn toàn cậy dựa vào Thiên Chúa. Chúng ta cần mạnh dạn cắt tỉa những cành nhánh vô ích đó để có thể tập trung nhựa sống từ thân cây Giêsu để nuôi dưỡng và làm phong phú đời sống thiêng liêng của chúng ta. Chúng ta sẽ phải trổ sinh những hoa trái nào? Chắc chắn không có hoa trái nào ngọt ngào bằng hoa trái tình yêu. Vì thế, gắn liền với thân cây Giêsu, đón nhận nhựa sống tình yêu từ Giêsu, chúng ta không thể để mình ra những trái chua, trái dại, nhưng phải sinh hoa thơm quả ngọt cho cuộc sống, cho cuộc đời. Thánh Gioan đã nhắn nhủ: Chúng ta đừng yêu thương bằng đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Trong xã hội duy vật và thực dụng ngày nay, nhiều người đã để tình yêu của mình bị xuống cấp, bị thoái hóa. Nhiều người đã biến tình yêu thành thực dụng để tìm kiếm vật chất mà không có sự chân thành; hành động yêu thương bị tính toán thiệt hơn, bị cân đong đo đếm. Nơi nhiều người trẻ, tình yêu bị biến thành tình dục, yêu thương chỉ còn là thỏa mãn. Thế nên, nhiều người đã lao vào cuộc sống buông thả, dễ dãi trong tình dục mà cứ nghĩ rằng đó là tình yêu. Về mặt xã hội, nhiều người bị ảnh hưởng quan điểm của Maxz: “hạnh phúc là đấu tranh”, vì thế, con người không sinh được hoa tình yêu, trái hạnh phúc mà chỉ còn là những kèn cựa, tranh giành nhỏ nhen. Chúng ta có thể thấy tình trạng đạo đức xã hội ngày nay xuống cấp, tội ác ngày càng dã man, những gương sống yêu thương dường như quá ít, trái lại, sự ác và gian dối lan tràn. Lý do là vì họ gắn với cây độc, hút nhựa độc, nên chỉ có thể sinh ra trái độc và nguy hiểm mà thôi. Chúng ta chỉ có thể sinh hoa trái yêu thương khi chúng ta gắn chặt vào thân cây Giêsu, lấy nhựa sống từ Lời của Chúa và Bí Tích Thánh Thể là nhựa ngọt ngào, là dưỡng chất tình yêu nuôi sống cuộc đời và làm cho chúng ta trổ sinh trái ngọt hạnh phúc. Đức Maria là mẫu gương được tháp nhập, đã gắn liền với Thiên Chúa và sinh hoa trái. Xin Chúa qua sự bầu cử của Đức Mẹ, gìn giữ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Xin Chúa cắt tỉa chúng ta bằng Lời của Chúa để chúng ta luôn mãi được nuôi dưỡng bằng tình yêu và trổ sinh hoa trái yêu thương cho mọi người hôm nay. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT IV PS

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

CHÚA CHIÊN LÀNH – CẦU CHO ƠN THIÊN TRIỆU
Vào tháng Giêng vừa qua, một nhóm gồm 20 sinh viên từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Tây Ninh để chinh phục núi Bà Đen. Tuy nhiên, chuyến leo núi của họ không thành công, cả nhóm bị lạc trên núi khi trời tối. Họ đã phải cầu cứu đội cứu hộ đưa cả nhóm ra khỏi bóng đêm sợ hãi của núi rừng. Nhiều người đã thắc mắc : Núi Bà là ngọn núi duy nhất nằm gữa đồng bằng, tại sao cả nhóm không tìm được đường xuống ? Sau đó, các thành viên cho biết, chuyến leo núi của họ không thành công là do có sự chia rẽ khi một số người bị mất sức, một số khác sợ bóng tối, sợ độ cao ; thêm vào đó, cả nhóm đã không chuẩn bị tốt những kỹ năng cũng như đồ dùng cho hành trình leo núi. Nhưng điều hết sức quan trọng, đó là cả nhóm đã không có được một lãnh đạo tốt để động viên tinh thần cả nhóm cũng như để giải quyết những sự việc bất thường xảy ra.
Nếu hành trình của một nhóm leo núi đã không thành công vì thiếu người dẫn đường, thì hành trình leo lên núi thánh của Thiên Chúa, hành trình đức tin, càng không thể thiếu người dẫn đường khôn ngoan, can đảm và giàu kinh nghiệm. Mừng lễ Chúa Chiên Lành, nhiều người chỉ dừng lại ở hình ảnh một đàn chiên ngoan ngoãn ăn cỏ và người chăn dắt chỉ là người lùa chiên, mà quên rằng, người chăn chiên còn quan trọng hơn như thế nhiều.
Con chiên trong văn hóa và đời sống của người Do Thái có một vị trí hết sức đặc biệt. Chiên không chỉ là tài sản mà còn là người bạn, là con cái và là thành viên của gia đình. Có thể người Việt không ôm con trâu, con bò, nhưng người Do Thái ôm con chiên như ngày nay người ta ôm thú cưng. Do đó, khi Chúa Giêsu dùng hình ảnh : Ta là Mục Tử tốt lành, thì người Do Thái sẽ hiểu ngay Chúa muốn nói đến tương quan của Ngài với mỗi người như mối thân tình của mục tử với đoàn chiên.
Chiên là loài vật hiền lành, chúng không thể tự vệ nên thường bị các thú dữ tấn công. Chúng là loài mắt kém, chân yếu nhưng tai rất thính. Vì mắt kém nên chúng rất dễ bị lọt xuống hố, vướng trong bụi gai ; và vì chân yếu nên chúng rất thường bị vấp té. Nhưng ngược lại, đôi tai thính của chúng phân biệt rất rõ tiếng của đồng loại và tiếng của người chăn. Vì vậy, người chăn chiên rất vất vả để chăm sóc cho đàn chiên của mình, người chăn thuê sẽ không làm được như vậy. Chúa Giêsu đã nói : Tôi là Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Chúng ta là đàn chiên của Chúa Giêsu. Giống như con chiên trong thực tế không có khả năng tự vệ, dễ bị sói dữ tấn công, thì cũng vậy, tội lỗi đã làm cho mắt chúng ta không còn sáng suốt để nhận ra đường đi, không đủ sáng để phân định điều tốt, điều xấu. Mắt chúng ta bị che mờ bởi sự tham lam tiền bạc và của cải vật chất khiến chúng ta dễ bị lạc đường. Chúa Giêsu là mục tử nhân lành và khôn ngoan. Ngài nhân lành để yêu thương, thông cảm, nâng đỡ và tha thứ ; Ngài khôn ngoan để dẫn chúng ta đi trên con đường an toàn, dẫn chúng ta đạt đến hạnh phúc nước trời. Là con chiên yếu đuối, con người dễ bị vấp té bởi những thử thách và cám dỗ do ma quỷ và thế gian bày ra. Vị Mục tử Giêsu đã ẵm bế, an ủi và chữa lành những vết thương trong tâm hồn và thể xác của chúng ta.
Khác với những kẻ chăn thuê, Chúa Giêsu là mục tử đích thực, Ngài đã hy sinh tính mạng để chiến đấu và bảo vệ đàn chiên khỏi sói dữ là ma quỷ tấn công. Ngài đã trải qua một cuộc chiến kinh hoàng, đã phải mang thương tích, chịu đánh đòn và bị người ta đóng đinh trên thập giá. Trong cái nhìn của người đời, thì cuộc chiến của Chúa Giêsu đã kết thúc với cái chết thảm bại. Nhưng trong quyền năng của Thiên Chúa, cái chết của Chúa Giêsu như một sự nghỉ ngơi lấy sức, sau đó, Ngài đã đạp mồ chỗi dậy để vĩnh viễn tiêu diệt thần chết, đem lại sự sống cho nhân loại. Từ cõi chết sống lại, Mục tử Giêsu đã quy tụ đàn chiên bị tản mác, đem lại sức sống mới cho nhân loại. Từ đây, tội lỗi được xóa bỏ, sự chết bị đập tan và Chúa Giêsu trở thành mục tử, thành người dẫn đường đưa đàn chiên tới sự sống hạnh phúc đời đời.
Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi. Đó vừa là điều kiện vừa là tiêu chuẩn để đánh giá xem chúng ta có thuộc về đàn chiên của Chúa Giêsu hay không. Là con chiên, chúng ta cần phải có một đôi tai thật thính để phân biệt tiếng nói của chủ với tiếng nói của kẻ lạ ; để nghe được tiếng nói của anh em khác với tiếng gầm gừ của sói dữ. Mục tử Giêsu sẽ dùng lời để an ủi, nâng đỡ, và cũng dùng lời để hướng dẫn chúng ta đi đúng con đường của Chúa. Bước theo sự hướng dẫn của Ngài, chúng ta không sợ rơi xuống vực thẳm, cũng không sợ đi lạc hay vấp chân vào đá. Ngài hướng dẫn chúng ta qua giới răn lề luật của Ngài, chỉ cho chúng ta con đường khiêm nhường và khó nghèo, con đường hẹp, là con đường an toàn nhất đưa chúng ta đến với Thiên Chúa. Ngài chỉ cho chúng ta con đường Bát Phúc để đưa chúng ta đến hạnh phúc thật. Mục tử Giêsu chỉ cho chúng ta đi theo con đường của Ngài là con đường yêu thương và phục vụ. Đi trên con đường này, chúng ta sẽ nhận ra Chúa và nhận ra anh em bên cạnh chúng ta.
Là con chiên có đôi tai thính để nghe được tiếng nói của mục tử, thì đồng thời cũng phải nghe được tiếng của những người bên cạnh. Nghe được tiếng của anh em sẽ giúp con chiên luôn đi bên cạnh anh em mình và tránh được tình trạng xa đàn và lạc đàn. Là con chiên trong đàn, chúng ta cũng cần phải lắng nghe tiếng nói của anh em mình. Thiên Chúa đang dùng những anh em bên cạnh để nhân danh Ngài tiếp tục hướng dẫn chúng ta. Hãy tin tưởng và lắng nghe theo sự hướng dẫn của Giáo Hội và các chủ chăn trong Giáo Hội. Các Ngài đang nhân danh Mục tử Giêsu và thay mặt Người để dẫn chúng ta. Thiên Chúa cũng đang dùng những người bên cạnh để nói với chúng ta, đó là cha mẹ, thầy cô và những người khôn ngoan. Nghe theo sự hướng dẫn của các ngài là nghe theo sự hướng dẫn của Chúa Giêsu.
Trong Sứ điệp Ngày Cầu nguyện cho Ơn gọi sống đời tu trì, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi các bạn trẻ và hết mọi người hãy dám bước vào một cuộc “xuất hành mới” để trở nên những con người phục vụ Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài cách quảng đại hơn. Ngài mời gọi mỗi người hãy mạnh dạn bước theo Chúa Giêsu, đi vào hành trình của Ngài, ra khỏi chính mình cùng với sự yên ổn, êm ấm của mình để đáp lại lời mời gọi của Thiên chúa. Trước hết, cần ra khỏi con người cũ kỹ và tình trạng tội lỗi để bước vào con đường sám hối và hoán cải. Bước theo con đường này, Mục tử Giêsu sẽ canh tân, đổi mới cuộc đời chúng ta. Kế đến, là bước vào hành trình của đức tin, theo sự dẫn dắt của Mục tử Giêsu, là dám buông mình cho tình yêu của Chúa, để cho Chúa xếp đặt và sử dụng tuổi trẻ và khả năng của mình. Hành trình này sẽ đưa chúng ta xa tránh những lối sống ích kỷ, khô cứng, để mang lấy một cuộc sống quảng đại và tràn đầy tình yêu thương phục vụ. Hành trình này vẫn đang là những thách thức cho tất cả những ai là môn đệ của Chúa Giêsu, là con chiên trong đàn chiên của Ngài.
Đức Thánh Cha cũng thách thức các bạn trẻ, đừng để cuộc đời mình bị cuốn trôi uổng phí, đừng chỉ tìm kiếm tiền bạc, của cải, tiếng tăm trước mắt, cũng đừng để trái tim và tâm hồn mình trở nên khô cứng, hẹp hòi, nhưng hãy luôn sẵn sàng và quảng đại đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Các bạn đừng sợ bước vào cuộc xuất hành cùng với Chúa Giêsu, Ngài sẽ giải phóng và làm cho cuộc đời chúng ta thêm tươi đẹp hơn. Thiên Chúa không bao giờ lấy đi những gì của chúng ta, Ngài sẽ trả lại và còn trao tặng cho chúng ta nhiều điều tốt đẹp hơn.
Thiên Chúa cũng đang cậy nhờ mỗi người đến với anh em của mình để nói với họ rằng : Thiên Chúa yêu thương họ. Chúng ta có dám thực hiện điều Chúa cậy nhờ không ? Xin Chúa cho chúng ta có một đôi tai thật thính để lắng nghe được lời mời gọi của Mục tử Giêsu. Xin cho mỗi chúng ta có một tâm hồn quảng đại để đáp lại lời mời gọi của Chúa, trở thành những cộng tác viên đem tình yêu thương của Chúa đến cho anh chị em. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT III PS

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

VÀ CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI Có lẽ nhiều người đã từng nghe hoặc từng hát bài “Và con tim đã vui trở lại” của Đức Huy. Lời bài hát nói lên tâm trạng của một người lầm lũi bước đi, tìm kiếm cho mình một tương lai. Anh lao vào những cuộc vui của xã hội, nhưng chỉ tìm thấy chán nản, thất bại, bế tắc. Chỉ khi một luồng sáng từ trên cao chiếu rọi vào tâm hồn và chỉ cho anh một con đường phải đi, tác giả mới tìm lại được niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống. Anh đã tâm sự : Tìm một con đường, tìm một lối đi, ngày qua ngày, đời nhiều vấn nghi, lạc loài niềm tin, sống không ngày mai, sống quen không ai cần ai, cứ vui cho trọn hôm nay. Rồi cuộc vui tàn, mọi người bước đi, một mình tôi về, nhiều lần ướt mi, chợt tình yêu đến trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối, cho tôi biến đổi tâm hồn, thành một người mới. Và con tim đã vui trở lại, tình yêu đến cho tôi ngày mai, tình yêu chiếu ánh sáng vào đời, tôi hy vọng được ơn cứu rỗi, và con tim đã vui trở lại, và niềm tin đã dâng về người, trọn tâm hồn nguyện yêu mãi riêng người mà thôi... Và bây giờ, ngày buồn đã qua, mọi lỗi lầm, cũng được thứ tha, tình yêu đã đến trong ánh nắng mai, xóa tan màn đêm u tối, cho tôi biến đổi tâm hồn, thành một người mới. Và con tim đã vui trở lại ... Dẫu như tôi phải đi qua vực sâu tối, tôi vẫn không sợ hãi gì, vì người gần bên tôi mãi. Có thể so sánh niềm vui của tác giả Đức Huy tìm lại được một hướng đi giống với niềm vui của hai môn đệ trên đường Emaus và của các Tông đồ sau ngày Chúa Phục Sinh. Quả thật, với cái chết của Thầy Giêsu, cánh cửa tương lai của các Tông đồ như bị đóng lại. Trước mắt các ông chỉ còn là một màu đen tối, u buồn, sợ hãi lẫn thất vọng. Có nhiều người trong họ đã buông xuôi và tính đến việc bỏ về quê như hai môn đệ Emaus, có người bỏ đi một nơi nào đó như Tôma. Các Tông đồ khi đi theo Chúa, họ đã đặt biết bao hy vọng và niềm tin vào Thầy mình, giờ đây họ như bị bế tắc. Đang lúc các ông rơi vào tình trạng chán nản, thất vọng như thế, chính Chúa Giêsu đã chủ động và tìm cách lấy lại tinh thần cho các ông. Ngài đã lần lượt hiện ra với các phụ nữ, với các Tông đồ, với hai môn đệ trên đường Emaus để an ủi và giúp các ông lấy lại được thăng bằng cho cuộc sống. Câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay xảy ra sau khi Chúa Phục Sinh đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Emaus. Ngài giải thích Kinh Thánh để củng cố đức tin và an ủi họ, cho họ nhận ra Ngài lúc bẻ bánh. Hai môn đệ đã vô cùng phấn khởi trở lại Giêrusalem để thuật lại kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Phục sinh cho các Tông đồ khác. Khi các ông còn đang nói thì chính Chúa Giêsu đứng giữa các ông và bảo : Bình an cho các con ! Bình an chính là món quà mà Chúa Phục Sinh trao tặng cho các Tông đồ và là món quà thích hợp nhất cho các ông lúc này. Chúa Giêsu đã thấu hiểu tâm trạng của các Tông đồ. Các ông dường như chưa hoàn hồn, chưa hết đau đớn về cái chết của Thầy cộng thêm nỗi sợ vì liên lụy tới Thầy Giêsu. Có lẽ điều khiến các Tông đồ dù nghe thấy những người kia kể lại về việc họ đã gặp Chúa, nhưng vẫn không tin, là vì họ đã chôn vùi cả tinh thần, ý chí và niềm tin của mình trong ngôi mộ của Thầy. Vì vậy, khi Chúa hiện ra đứng trước mặt, các ông kinh hồn bạt vía vì tưởng là bóng ma. Chúa Giêsu đã phải trấn tĩnh, thuyết phục các ông và tìm cách chứng minh Ngài chính là Thầy của họ, Đấng đã chết và đã sống lại thật : Sao anh em lại nghi ngờ ? Cứ sờ mà xem, ma không có xương thịt như anh em thấy Thầy đây. Rồi Ngài cho các ông xem dấu vết nơi tay chân Ngài. Dường như ánh mắt nghi ngờ vẫn còn nơi các Tông đồ. Chúa Giêsu đã phải cho các ông thấy một dấu chứng khác khi hỏi các ông : Anh em có gì ăn không ? Các ông đưa cho Ngài một khúc cá nướng, Người ăn trước mặt các ông. Chắc chắn thân xác phục sinh của Chúa Giêsu không cần phải ăn uống, nhưng Ngài vẫn ăn trước mặt các Tông đồ, để các ông tin Ngài đã sống lại thật trong thân xác thật chứ không phải là ảo ảnh hay nằm mơ. Dù thuyết phục các Tông đồ bằng các dấu chứng như thế, Chúa Giêsu vẫn muốn xây dựng đức tin của các Tông đồ trên nền tảng vững chắc hơn, đó là dựa trên Thánh Kinh. Ngài nhắc lại cho các ông tất cả các sách Luật, các Ngôn Sứ và Thánh Vịnh đã chép về Ngài phải được ứng nghiệm. Khi nhắc đến Môse và các Ngôn Sứ tức là nhắc đến toàn bộ Thánh Kinh đã nói trước về cuộc tử nạn phục sinh và ơn Cứu độ mà Đấng Cứu Thế sẽ thực hiện để cứu chuộc nhân loại. Tác giá Luca còn nhấn mạnh : Bấy giờ, Ngài mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh. Được Chúa mở trí tức là được Chúa phá đi màn đêm u tối, cho tâm hồn biến đổi thành một người mới. Chúa Giêsu nhắc lại cho các Tông đồ những đoạn Kinh Thánh nói về Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại. Điều này chứng tỏ rằng : Để đón nhận được Tin Mừng Phục Sinh và trở thành người loan báo về mầu nhiệm Phục Sinh cần phải đọc lại Kinh Thánh và tin vào những gì Kinh Thánh đã nói về Chúa Giêsu. Đây chính là nền tảng cho đức tin của chúng ta, vì ngày nay, chúng ta không được thấy Chúa Phục Sinh hiện ra, cũng không thấy ngôi mộ trống, nhưng chúng ta vẫn có thể tin và đón nhận Chúa Phục Sinh nhờ lời minh chứng của Kinh Thánh và của Giáo Hội. Thánh Phêrô sau khi đã chứng kiến ngôi mộ trống, những lần Chúa hiện ra và đọc lại Kinh Thánh, ông đã tin. Niềm tin vào sự Phục Sinh đã biến đổi hoàn toàn con người của ông. Từ một con người nhát sợ, ông trở thành can đảm ; từ một người trốn tránh, nay ông dám đứng ra để nhận trách nhiệm làm chứng về Chúa Phục sinh. Bài đọc một cho thấy Phêrô đã trích lời Kinh Thánh và nhắc đến việc Thiên Chúa hứa với các Tổ phụ rằng sẽ ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại. Tuy nhiên, những thế hệ con cháu của các tổ phụ đã từ chối và đã đóng đinh Ngài trên cây thánh giá. Thiên Chúa quyền năng đã tôn vinh Đức Giêsu và làm cho Ngài từ cõi chết sống lại. Điều quan trọng lúc này là hãy sám hối về hành động ấy, quay trở lại với Thiên Chúa và tin nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Cùng với việc tin Chúa Giêsu Phục Sinh thì cũng đồng thời phải nhân danh Người rao giảng cho muôn dân. Chính anh em là chứng nhân về những điều đó. Đây là trách nhiệm Chúa trao cho chúng ta. Chúng ta chỉ có thể nói về Chúa Phục sinh khi ta tin Ngài và đã gặp Ngài, vì nếu chúng ta chưa xác tín hoặc chưa gặp Ngài, lời chứng của chúng ta sẽ không đủ xác tín và thiếu thuyết phục. Như vậy, để trở thành chứng nhân về việc Phục sinh, chúng ta phải đọc và gẫm suy lời Kinh Thánh mỗi ngày. Kinh Thánh sẽ củng cố đức tin cho chúng ta. Giống như hai mộn đệ trên đường Emaus, cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình cũng có những lúc thăng trầm, sóng gió. Có nhiều khi toan tính, dự định không thành, làm ăn thất bại ; nhiều khi vì áp lực của xã hội khiến cho cuộc sống căng thẳng, mệt mỏi. Chúng ta tin rằng, Chúa Phục sinh không bao giờ để chúng ta thất vọng, Ngài luôn đồng hành bên ta để giúp ta tìm lại niềm vui cho cuộc sống. Chúa Giêsu cũng sẽ dùng Lời Kinh Thánh để an ủi, nâng đỡ mỗi người. Ngài sẽ cho chúng ta nhận ra Người trong bữa tối khi chúng ta cố mời ép Người vào cư ngụ trong gia đình, trong tâm hồn. Ngài hiện diện nơi Bí tích Thánh Thể để những ai đến với Ngài sẽ nhận ra sự hiện diện quyền năng của Ngài. Tin và loan truyền Chúa Phục Sinh, chúng ta không thể để mình sống trong ủ dột, buồn chán, bi quan, thất vọng ; ngược lại, chúng ta phải sống trong niềm vui. Dân ngoại sẽ không thể đón nhận Tin Mừng chúng ta loan báo khi chúng ta mang trên mình gương mặt buồn bã, tinh thần uể oải. Niềm vui của Tin Mừng không phải là niềm vui ồn ào bên ngoài, mà là niềm vui phát xuất từ trong tâm hồn vì tin rằng chúng ta đã được cứu độ và trở nên con của Thiên Chúa. Niềm vui ấy sẽ phải lan tỏa ra cho mọi người, qua lời nói qua cử chỉ và qua cách sống đẹp của mỗi Kitô hữu nơi gia đình, nơi chòm xóm và nơi mỗi người đang làm việc. Xin Chúa cho mỗi người cảm nhận được niềm vui Phục sinh và trở thành người loan báo tin vui Phục sinh cho anh chị em. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc




CHÚA NHẬT II PS B :

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015
MẦU NHIỆM PHỤC SINH MỜI GỌI BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG
Giả dụ có một người ngoại đạo đặt cho chúng ta câu hỏi : Đức Giêsu có sống lại thật không ? Câu chuyện sống lại có phải do những người Kitô hữu dệt nên như thế ? – Có lẽ chúng ta sẽ tìm mọi cách để chứng minh rằng : Chúa đã sống lại thật. Và giả dụ người ta lại đặt câu hỏi tiếp theo : Vậy ông bà, anh chị nói rằng Chúa đã phục sinh thì điều đó có ảnh hưởng gì trên cuộc sống của ông bà, anh chị ? – Có lẽ chúng ta không dễ để trả lời câu hỏi này, nếu cuộc sống của chúng ta không có gì khác biệt hơn hoặc nổi bật hơn cuộc sống của những người chung quanh!
Thưa quý OBACE, các bài đọc của Chúa nhật II giúp chúng ta trả lời cho những câu hỏi ấy : Chúa có sống lại thật không và Mầu nhiệm Phục sinh mời gọi ta điều gì ? Tất cả các Tin Mừng đều đưa ra cho chúng ta lý chứng về việc Chúa sống lại, đó là ngôi mộ trống, không còn xác Chúa ở đó, và những lần Chúa hiện ra với các tông đồ, cho các ông thấy rằng Chúa đã sống lại thật. Tuy nhiên, chúng ta là những thế hệ tín hữu sau các tông đồ, chúng ta không được nhìn thấy ngôi mộ trống, cũng không được thấy những lần Chúa hiện ra, vì thế, niềm tin Chúa Phục sinh của chúng ta hoàn toàn phải dựa trên lời chứng của các tông đồ là những người đã chứng kiến những sự kiện này.
Thánh Gioan trong đoạn Tin Mừng hôm nay thuật lại hai lần hiện ra của Đấng Phục Sinh : lần thứ nhất vào buổi chiều ngày Phục sinh và lần thứ hai là tám ngày sau. Chắc chắn sau cái chết của Chúa Giêsu, các tông đồ hoàn toàn mất phương hướng và rơi vào cảnh sợ hãi, lẩn trốn, vì sợ những người Do Thái. Các ông rút vào phòng và đóng cửa lại. Trong lúc các ông hoang mang như thế thì Chúa Giêsu hiện ra và ơn đầu tiên Ngài ban cho các ông là ơn bình an. Chúa Giêsu Phục sinh đã nói với các ông : Bình an cho các con ! Ngài đã thấy rõ tâm trạng của học trò mình nên bình an là ơn cần thiết cho các ông lúc này, vì thế mà Ngài đã lặp đi lặp lại : Bình an cho anh em !
Thánh Gioan còn cho thấy, các tông đồ mặc dù còn sống, còn thở, nhưng thực sự tâm hồn các ông đã chết, các ông chỉ như một cái xác không hồn. Vì thế, Chúa Giêsu đã thổi cho các ông luồng sinh khí mới : “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần…”. Hình ảnh này cho chúng ta nhớ lại, ngày xưa khi tạo dựng Adam, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào lỗ mũi và cho Adam có sự sống, thì hôm nay, Chúa Giêsu cũng thổi Thần Khí của Ngài cho các tông đồ để tái tạo và ban cho các ông một sức sống mới, làm nên một dân mới. Cùng với ơn bình an, Chúa trao quyền năng mới, quyền năng tha tội, là quyền năng của Thiên Chúa, nay được trao cho các tông đồ. Đây chính là kỳ công mà Chúa Phục Sinh ban cho các tông đồ, là những thủ lãnh trong Giáo Hội của Ngài.
Vì thế, để đón nhận được niềm tin Phục sinh, chúng ta cần trở về với các tông đồ, tức là Giáo Hội, và lắng nghe lời chứng của các ngài. Trái lại, khi chúng ta tự tách mình ra khỏi Giáo Hội thì chúng ta không thể đón nhận được niềm tin này, đó là trường hợp của ông Tôma trong câu chuyện hôm nay. Vì một lý do nào đó, ông đã tách lìa khỏi cộng đoàn các tông đồ, nên chiều ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, thì đã không có ông ở đó, nên ông đã không tin và ông còn khẳng định : Nếu tôi không thấy những lỗ đinh… thì tôi không tin. Hôm nay, cuộc hiện ra vào tám ngày sau, Chúa dành riêng cho Tôma khi ông đã trở về trong sự hiệp nhất với các tông đồ. Chúa đã cho ông thấy những vết thương trên thân thể Ngài. Chúa đã cho Tôma được đụng chạm đến những dấu vết của tình yêu thương, và Ngài mời gọi Toma : Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin. Ông Tôma đã tin và ông còn tuyên xưng niềm tin của mình cách công khai : Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con ! Niềm tin của ông không chỉ dừng lại nơi Chúa Phục Sinh mà còn tin Thầy của ông là Chúa và là Thiên Chúa nữa.
Nếu như bài Tin Mừng trả lời cho câu hỏi Chúa có sống lại thật hay không, thì bài đọc một và bài đọc hai cho chúng ta thấy, niềm tin Phục sinh có ảnh hưởng sâu rộng trên đời sống của cộng đoàn Giáo Hội sơ khai. Sách Công vụ kể lại rằng : Các tín hữu bấy giờ gia tăng đông đảo, một lòng một ý với nhau, cùng làm chứng cho việc Chúa sống lại, sống chia sẻ, bác ái, và trong cộng đoàn không còn ai phải thiếu thốn. Đó là những công việc mà Giáo Hội sơ khai đã làm để minh chứng cho niềm tin của mình, hay nói đúng hơn, việc sống yêu thương và thực thi bác ái là lời chứng mạnh mẽ nhất về niềm tin Phục sinh của Giáo Hội và của chúng ta hôm nay.
Thư Thánh Gioan đã quảng diễn rộng hơn khi nói : Ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, kẻ ấy được Thiên Chúa sinh ra… và… căn cứ vào điều này, chúng ta biết được mình là con cái Thiên Chúa : Đó là, chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành giới răn của Người. Như thế, mỗi người chúng ta hôm nay được sinh ra từ cạnh sườn của Đức Kitô qua Bí tích Rửa tội. Chúng ta đã là con Thiên Chúa, và vì là con Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi sống giới răn yêu thương của Chúa. Chúng ta cũng phải yêu đến độ cúi xuống để rửa chân, để phục vụ, yêu đến trao ban mạng sống, trở nên tấm bánh trao tặng cho mọi người. Đó là cách chúng ta sống mầu nhiệm Chúa Phục sinh, hay nói cách khác, nếu chúng ta tuyên xưng Chúa Phục sinh, thì chúng ta phải sống và thực hành như thế.
Chúng ta cùng với Giáo Hội cử hành ngày Lòng Chúa Thương Xót. Chúng ta cùng cảm nghiệm tình thương Thiên Chúa dành cho mỗi người. Chúa đã cho Tôma được xỏ tay vào cạnh sườn Chúa, được đụng chạm đến trái tim chạnh thương của Ngài, thì hôm nay, Chúa cũng vẫn cho mỗi người chạm đến lòng thương xót Chúa. Chúa đang chạm đến chúng ta qua tình yêu thương của Giáo Hội. Chúng ta chạm đến lòng thương xót Chúa qua Bí tích Giải tội. Hãy tin tưởng đến với Chúa vì Chúa không bao giờ bỏ chúng ta. Tuyên xưng niềm tin Phục sinh và Lòng thương xót Chúa, chúng ta không thể để mình sống trong ủ dột, buồn chán, cũng không thể buông xuôi hay thất vọng mỗi khi gặp thử thách, gian nan. Trái lại, chúng ta phải sống trong hy vọng và trong niềm tin tưởng : Chúa Phục sinh luôn ở bên ta để giải gỡ cho ta những khó khăn, nhất là những lúc ta gặp khó khăn về niềm tin.
Được tái tạo trở nên con người mới với một tinh thần mới, chúng ta không thể để mình quay trở lại với con người cũ, nếp sống cũ nữa. Chúng ta không thể mãi nuôi trong mình sự thù hận, hoặc những lối sống lười biếng, dễ dãi, mà phải sống với một quyết tâm mới, gắn bó với Chúa bằng việc siêng năng đến với Thánh lễ và các Bí tích, đồng thời, gắn bó với Giáo Hội là mẹ của chúng ta.
Để mầu nhiệm Phục Sinh ảnh hưởng trên cuộc đời của mình, chúng ta hãy noi theo gương của Giáo Hội sơ khai : sống yêu thương nhau và chia sẻ với nhau trong tình huynh đệ. Hãy gạt bỏ khỏi mình sự dửng dưng, thờ ơ để biết sống quan tâm đến nhau nhiều hơn. Hãy gạt bỏ khỏi mình sự nhỏ nhen, hẹp hòi, ích kỷ để biết sống quảng đại và cảm thông… Chính đời sống bác ái yêu thương của từng Kitô hữu sẽ là cách chúng ta minh chứng niềm tin Phục sinh một cách mạnh mẽ nhất.
Cầu chúc cho mọi người trở thành sứ giả đem niềm vui Phục sinh đến cho mọi người. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015
TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN ĐÁNG TIN CỦA MẦU NHIỆM PHỤC SINH Thưa quý OBACE, chúng ta họp nhau nơi đây để cử hành và tuyên xưng niềm tin vào
mầu nhiệm Chúa phục sinh. Cho đến ngày nay, niềm tin vào Chúa phục sinh là niềm tin chỉ có ở nơi Kitô giáo chúng tavà là một điều khó chấp nhận đối với nhiều người. Khi nói chuyện với những người ngoài Kitô giáo, có thể họ dễ dàng chấp nhận hệ thống giáo lý và luân lý của Kitô giáo, nhưng không dễ để chấp nhận niềm tin Phục Sinh, nhiều người còn lấy niềm tin vào Chúa phục sinh của chúng ta để phản bác chúng ta. Niềm tin Chúa phục sinh không chỉ là niềm tin nền tảng mà còn là niềm hy vọng chắc chắn của chúng ta. Để đón nhận được niềm tin này, chúng ta phải đặt mình trong niềm tin và lời chứng của Giáo Hội và của Kinh Thánh. Đó cũng là điều các bài đọc cũng như Tin Mừng mùa Phục sinh muốn nói cho chúng ta. Câu chuyện trong Tin Mừng Gioan nhấn mạnh :Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Macdala đi ra thăm mộ, thì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bà chạy về báo cho ông Simon và người môn đệ Đức Giêsu thương mến và nói: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ. Lý chứng đầu tiên của việc Chúa sống lại chính là ngôi mộ trống, không còn xác Chúa nữa. Bà Maria này đã không dễ dàng chấp nhận việc Chúa phục sinh, vì trong tâm hồn bà còn bị phủ một màn tối của cái nhìn tự nhiên : Ai đó đã lấy mất xác Chúa! Trong lúc lo sợ, hoang mang như thế, bà đã chạy về gặp Simon và người môn đệ Chúa yêu. Tác giả Tin Mừng nhấn mạnh là bà chạy về với Simon, điều đó có nghĩa là bà không chạy đi, mà là chạy về với Simon, là thủ lãnh của Giáo Hội, là người được Chúa trao quyền đứng đầu trong anh em và là người sẽ có tiếng nói chính thức về biến cố này. Chúng ta cũng thấy vai trò nổi bật của Simon, Tin Mừng kể lại: Cả hai người cùng chạy ra xem mộ, mặc dầu người kia đến trước, song ông không vào trong mộ, mà nhường bước cho người anh cả là Simon Phêrô vào trước. Cả hai ông đều thấy mộ đã trống, và còn thấy dấu chứng khác của việc Chúa đã Phục sinh, đó là những tấm vải và khăn liệm còn để ở đó. Khăn liệm còn nguyên ở đó: chứng tỏ không phải xác Chúa bị mất trộm, vì nếu có người lấy đi, thì họ sẽ đem cả những tấm vải đó theo, chứ không để lại làm gì. Hơn thế nữa, các ông còn thấy các tấm khăn che đầu, che mặt và những băng vải, không hề bị xáo trộn, mà được gấp lại gọn gàng và để riêng thứ nào vào thứ đó. Như thế, câu nói hồ nghi của bà Maria Macdala: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, là không có cơ sở. Tác giá Tin Mừng nói lên cảm nghiệm của các ông rằng: Ông đã thấy và đã tin, tức là các ông đã thấy những dấu chứng đầu tiên này, các ông đã tin rằng Chúa đã sống lại thật và không thể có ai đến lấy trộm hoặc mang xác Chúa đi nơi khác. Tác giả cũng nói thêm: Trước đó, họ chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Đây chính là mấu chốt quan trọng của mầu nhiệm Chúa Phục sinh, đó là phải dựa vào Kinh Thánh, vì Kinh Thánh đã chuẩn bị, đã nói trước và minh chứng về biến cố này. Chúa Giêsu khi còn sống, Ngài cũng đã nhiều lần nói về việc Ngài sẽ bị người ta giết, bị đóng đinh và ngày thứ ba Người sẽ sống lại. Ngài đã từng dùng quyền năng của mình mà làm cho kẻ chết sống lại, như là một minh chứng về quyền năng Thiên Chúa ở nơi Ngài. Dó đó, nếu tin vào Kinh Thánh, thì chúng ta sẽ đón nhận được niềm tin Phục sinh hôm nay. Bên cạnh đó, Kinh Thánh còn là sách ghi lại lời chứng của các tông đồ về biến cố quan trọng này. Chúng ta lật lại sách Công vụ Tông đồ sẽ tìm thấy những lời chứng mạnh mẽ của Simon Phêrô về việc Chúa Phục sinh : Chúa đã sống lại thật! Bài đọc một thuật lại bài giảng của Phêrô tại nhà ông Cornêliô. Trong bài giảng này, Phêrô đã tóm lược cả cuộc đời Chúa Giêsu và sứ điệp của Ngài. Thánh nhân còn khẳng định: Như quý vị biết rõ, biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa về Đức Giêsu Nazareth… và chúng tôi xin làm chứng về những việc Người đã làm. Phêrô làm chứng rằng, Chúa Giêsu đã bị người Do Thái giết và treo Người trên thập giá. Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy và xuất hiện tỏ tường trước mặt những chứng nhân đã được tuyển chọn. Thánh Phêrô cũng quả quyết rằng: Chúng tôi đã cùng ăn uống với Ngài sau khi Ngài từ cõi chết sống lại. Lời chứng này muốn khẳng định rằng Đức Giêsu sống lại thật, sống lại với cả con người bằng xương bằng thịt thật, chứ không phải là một cái bóng. Điều này cho thấy, không phải do các môn đệ ảo tưởng nhìn người này ra người nọ, vì chính các ông đã gặp gỡ, chuyện trò với Ngài, đã ăn uống với Ngài, mặc dù thân xác phục sinh của Chúa không cần phải ăn uống nữa, nhưng đó là cách Chúa làm để củng cố niềm tin cho các tông đồ, và truyền cho các ông phải làm chứng về điều các ông đã thấy. Cũng chính vì thế mà các tông đồ đã dám sống tới cùng điều các ông đã làm chứng và dám chấp nhận cả cái chết để làm chứng cho điều các ông đã thấy và đã tin, vì không ai lại dám chết vì một điều vô lý. Các tông đồ cũng thấy rằng, các ngôn sứ từ xưa đã nói về Chúa Giêsu và tiên báo về việc sống lại của Ngài, để ai tin vào Ngài thì sẽ được ơn tha tội. Vì thế mà trong thư Côlôsê, Thánh Phaolô đã nói với các tín hữu rằng: Anh em đã được trỗi dậy cùng với Chúa Kitô, thì hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Việc làm phép nước đêm qua nhắc cho chúng ta nhớ rằng :Nhờ Bí tích Rửa tội, mỗi người khi được dìm trong dòng nước thanh tẩy, tức là chết con người cũ và sống lại với một con người mới, thì lòng trí và đời sống cũng sẽ được đổi mới. Là những người tin và làm chứng về việc Chúa Phục sinh, chúng ta đã sống như thế nào và làm chứng như thế nào ? Tin vào Tin Mừng Phục sinh, trước hết, chúng ta phải sống trong niềm vui, và để có niềm vui này, thì chúng ta phải có Chúa Phục sinh trong tâm hồn. Nói như Thánh Phaolô, chúng ta phải để lòng trí chúng ta thuộc về thượng giới, tức là chúng ta không thể để cho vật chất, của cải thế gian làm chủ đời ta, và càng không thể để cho nó chiếm hết cả cuộc đời, tâm trí chúng ta được. Trái lại, hãy để cho Chúa Phục sinh cư ngụ và thắp sáng tâm hồn chúng ta. Hãy để cho ánh sáng Phục sinh xua đi những mảng tối trong tâm hồn và những góc tối trong cách chúng ta làm ăn buôn bán, cách chúng ta cư xử với anh em. Hãy để cho mầu nhiệm Phục sinh thúc đẩy chúng ta rũ bỏ những lôi kéo của xã hội, như rượu chè, cờ bạc, đam mê xấu, và hãy để những thời giờ ấy làm những việc tốt, việc có ích cho gia đình, người thân và cho cộng đồng, cho giáo xứ. Đối với các bạn trẻ, trong môi trường học tập hay nơi công sở, các bạn vẫn thường gặp những câu hỏi chất vấn về đức tin vào mầu nhiệm Chúa phục sinh và về Giáo Hội. Mỗi khi bị thử thách về đức tin như thế, hãy noi theo tấm gương của Maria Macdala, chạy về với Simon Phêrô, tức là chạy về với Giáo Hội, vì Giáo Hội là Mẹ và là Thầy của chúng ta trong đức tin. Hãy tin tưởng vào sự hướng dẫn dạy bảo của Giáo Hội, đừng để những lập luận, những lý thuyết của người đời làm lung lạc đức tin của các bạn, và nhất là đừng chạy ra ngoài để chỉ trích Giáo Hội. Chỉ những ai tin Chúa Giêsu Phục sinh mới được phục sinh như Ngài. Chúng ta không thể tìm kiếm sự phục sinh và hạnh phúc đời đời nơi con người hoặc những lý thuyết của thế gian. Tin vào mầu nhiệm sống lại, chúng ta không thể cứ sống trong tình trạng chết chóc của tội lỗi và tật xấu, mà phải giũ bỏ tất cả để sống con người mới và còn là người làm chứng đáng tin cho mầu nhiệm Chúa Phục sinh. Chúng ta chỉ có thể trở thành người làm chứng đáng tin khi chúng ta được gặp gỡ Chúa Phục Sinh qua việc cầu nguyện, tâm sự với Chúa, qua Bí tích Thánh Thể và qua chính lời Kinh Thánh mỗi ngày. Khi đó, chúng ta mới có thể nói với mọi người rằng: Chúa đã sống lại thật ! Chính chúng tôi làm chứng về Ngài, chúng tôi đã gặp Ngài. Cầu chúc cho mọi người trở thành chứng nhân đáng tin của Chúa Phục sinh. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc
 

Bai đang học

PHUNG VU GIO KINH

GÍAO HỘI

HỘI ĐỒNG GIÁM MUC

HỘI DONG ĐAMINH TAM HIỆP

SÁCH KINH THÁNH TIẾNG ANH

LOI CHUA TIENG ANH MOI NGAY

ĐÀI CHÂN LÝ

THẮC MẮC VỀ TÔN GIÁO

NHAC LÝ GUITA

SỨC KHỎE

TẢI VIDEO NHANH KHÔNG CẦN PHẦN MỀM

LUYỆN THI TIẾNG ANH

GIẢI TRÍ

HOC ĐÀN

Đăng Ký

Tên

Email *

Thông báo *

Hỗ Trợ Online

Tổng số lượt xem

Lên đầu trang Xuống cuối trang