MÙA PHỤC SINH NĂM C | NIỀM VUI PHỤC VỤ

CHUA LE CHÚA THÁNH THẦN

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016
CHÚA THÁNH THẦN – LÀN GIÓ ĐƯA THUYỀN GIÁO HỘI RA KHƠI

Đã từ lâu, con người biết tận dụng sức gió vào trong cuộc sống như làm những cối xay gió khổng lồ. Những người làm nghề đánh cá biết tận dụng sức gió để căng buồm ra khơi. Ngày nay công nghệ phát triển, các nước văn mình đã tận dụng sức gió để biến thành điện năng phục vụ cho các sinh hoạt xã hội. Trong cuộc sống, những làn gió nhẹ giữa trưa hè có thể xua đi cái nóng oi bức, nhưng cũng có những cơn gió lốc có thể thổi bay tất cả nhà cửa tài sản một vùng.
Chúa Giêsu, trong cuộc nói chuyện với Nicôdêmô, đã so sánh Chúa Thánh Thần như làn gió : Ta không thấy gió, nhưng ta cảm nhận được gió thổi, ta cũng không biết gió từ đâu đến và sẽ đi đâu. Hôm nay trong ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, một lần nữa Kinh Thánh lại dùng hình ảnh gió để nói về Chúa Thánh Thần.
Sách Công Vụ kể lại : Vào ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động như tiếng gió mạng lùa vào đầy nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những lưỡi như lưỡi lửa tản ra đậu xuống đậu trên từng người. Ai nấy được đầy tràn Thánh Thần. Với cách trình bày này, tác giả gợi lại cho chúng ta biến cố Thiên Chúa ký kết giao ước với Mose trên núi Sinai và ban lề luật cho Israel : khi Thiên Chúa ngự xuống, núi Sinai bốc cháy và rung chuyển. Nếu như ngày xưa, Thiên Chúa đã ký kết với dân Israel một giao ước và nhận Israel làm dân riêng của Chúa, thì hôm nay Chúa Thánh Thần hiện xuống qua làn gió làm rung chuyển mặt đất, để thánh hóa dân mới là Giáo Hội, dân đã được cứu chuộc bằng máu chúa Giêsu và làm cho họ thành dân riêng của Chúa.
 Kinh Thánh còn cho thấy Chúa Thánh Thần là làn gió đổi mới, làm thay đổi hoàn toàn các tông đồ. Làn gió Thánh Thần đã mở toang cánh cửa khép kín, để từ đây các tông đồ sẽ không còn co cụm trong nhà nữa, nhưng sẽ phải bước ra với thế giới. Thánh Thần thay đổi con người các tông đồ, để các ông không còn buồn rầu, cũng không lo lắng sợ hãi, nhưng trở nên những con người manh dạn làm chứng về cuộc phục sinh của Chúa Giêsu. Vì thế, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống được xem như ngày khai trương Giáo Hội, ngày Giáo Hội xuất hiện công khai với thế giới.
Chúa Thánh Thần là Đấng quy tụ muôn dân. Chi tiết này cho chúng ta nhớ về hai biến cố của Cựu Ước: Biến cố thứ nhất là câu chuyện tháp Babel. Vì sự kiêu căng, con cháu ông Noe muốn xây một cái tháp chạm trời, Thiên Chúa đã để cho họ rơi vào tình trạng chia rẽ, tản mác, không thể hiểu nhau được nữa. Qua biến cố Thánh Thần hiện xuống, Ngài là Đấng qui tụ muôn dân muôn nước nên một, Ngài làm cho mọi người có thể hiểu được tiếng nói của các tông đồ, quy tụ họ nên một dân duy nhất.
Biến cố thứ hai xảy ra thời ông Môse : khi bảy mươi hai vị kỳ lão được chọn để chia sẻ công việc với Mose. Trong ngày họp mặt để Thiên Chúa ban Thần Khí, thì hai người đã không đến, tuy nhiên họ vẫn đón nhận được Thần Khí của Thiên Chúa và phát ngôn tại lều trại của mình. Ông Giosue thấy vậy khó chịu, chạy đến nói với ông Mose : xin thầy cấm hai ông ấy. Như Mose đáp : ta còn ước mong mọi người trong dân đều đón nhận được Thần Khí và mọi người đều có thể nói tiên tri. Như thế, Sách Công Vụ hôm nay cho thấy, giống như ngày xưa, Thánh Thần đã ngự xuống trên mọi người và cho họ có khả năng để nói về Chúa Giêsu cho mọi người, biến họ trở thánh sứ giả của Thiên Chúa. Trước đây các tông đồ chỉ là những con người nhà quê ít học, giờ đây các ông trở nên những con người thông thái. Thánh Thần ban cho các ông khả năng nói các thứ tiếng khác nhau, khiến mọi người ngoại quốc tụ tập về Giêrusalem nghe các ông giảng, họ có thể hiểu được các ông.
Trong thư gửi cho cộng đoàn Corintô, Thánh Phaolô cho thấy, chính Thánh Thần giúp chúng ta đón nhận Tin Mừng của Chúa Giêsu và tin Ngài là Thiên Chúa. Vì thế, ơn đức tin mà chúng ta có được ngày hôm nay, chắc chắn là so sự hoạt động của Chúa Thánh Thần. Ngài làm cho tâm hồn chúng ta trở nên mảnh đất tốt để hạt giống Tin Mừng của chúa Giêsu được nảy mầm và bén rễ. Ngài cũng còn tiếp tục hoạt động trong mỗi người như mưa trời, để làm cho đức tin của chúng ta mỗi ngày một vững mạnh hơn, tin một cách chắc chắn hơn vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa.
Cũng Thánh Phaolô cho thấy, Chúa Thánh Thần đang hoạt động một cách hữu hiệu và linh hoạt trong mỗi người. Dù chúng ta có khác biệt nhau về ngôn ngữ hay văn hóa, chúng ta đều thuộc về Chúa Giêsu và làm nên một thân thể duy nhất của Người. Mỗi người được mời gọi theo khả năng và ơn gọi riêng, chúng ta đều phải làm việc hết mình để phục Chúa và Giáo Hội và tạo nên sự hợp nhất của Giáo Hội. Không còn phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, tất cả đều làm nên một thân thể của Chúa Kitô nhờ cùng một Thánh Thần.
Tin Mừng Gioan cho thấy một hoạt động khác của Chúa Thánh Thần : Thánh Thần là Đấng ở trong các tín hữu, hoạt động nơi các tín hữu và giúp mỗi người thực thi sứ mạng của mình. Tất cả mỗi người đều đón nhận mệnh lệnh sai đi của Chúa Giêsu, dù là các tông đồ, giáo sĩ hay là giáo dân. Chúng ta sẽ không ra đi một mình, nhưng chính Chúa Thánh Thần là làn gió nhẹ làm căng cánh buồm cuộc đời cũng như cánh buồm Giáo Hội, để đưa chúng ta ra khơi thả những mẻ lưới đem các linh hồn về cho Chúa. Khi thực thi sứ mạng này, là chúng ta được chia sẻ vào sứ mạng của Chúa Giêsu đã nhận từ nơi Chúa Cha, là đem Tin Mừng cứu độ cho thế giới. Vì thế, chúng ta không thể thoái thác hoặc chần chừ, nhưng phải nhiệt tâm hăng hái và khiêm tốn để cho Thánh Thần Chúa dẫn đi.
Riêng đối với các tông đồ và những đấng kế vị các Ngài, Chúa Giêsu còn trao cho các ngài quyền tha thứ nhờ Thánh Thần. Chính nhờ quyền tha thứ này, Giáo Hội cùng với sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, tiếp tục nối dài tình thương cứu độ và lòng thương xót của Thiên Chúa cho thế giới, cho đến ngày tận thế. Như vậy mỗi khi công bố lời tha thứ, các thừa tác viên của Giáo Hội đã phải nại đến Thánh Thần là sức mạnh, là tình yêu và cũng là lương y để tha thứ, yêu thương, đón nhận hối nhân và chữa lành những vết thương tâm hồn cho họ.
Là thành viên của Giáo Hội, chúng ta đã được đón nhận Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ phải cùng với mọi thành phần khác xây dựng sự hiệp thông và hiệp nhất trong Giáo Hội. Dù có khác biệt về cách thức hoặc khác biệt về quan điểm, chúng ta vẫn được mời gọi cùng nhau làm nên một Giáo Hội duy nhất, thành thiện, công giáo và tông truyền. Là con của Giáo hội, chúng ta có bổn phận làm cho gương mặt của mẹ Giáo Hội ngày càng tươi đẹp hơn và làm cho các hoạt động của Giáo Hội ngày càng có ảnh hưởng trong thế giới này. Vì thế đừng bao giờ vội vàng chỉ trích giáo Hội như kẻ bàng quan đứng bên ngoài, nhưng hãy mang cùng một tâm thức một trách nhiệm và cùng một thao thức với sứ mạng đến với muôn dân.
Hiện nay có nhiều nhóm người, nhiều trang mạng mang danh là công giáo, nhưng thực ra họ đang tìm cách để tách lìa chúng ta ra khỏi Giáo Hội, họ đang muốn kiêu khích chúng ta để chúng ta quay lại chống đối Giáo Hội. Cũng có nhiều người là con của Giáo Hội, nhưng lại dễ dàng dùng những lời lẽ, những cách chỉ trích thiếu tính xây dựng, tạo nên những ngờ vực trong Giáo Hội. Hãy cẩn thận với những cám dỗ và những nguy cơ đó.
 Để có thể thực thi được sứ mạng Chúa Kitô trao phó, mỗi người cần căng rộng cánh buồm tâm hồn để cho làn gió của Chúa Thánh Thần thổi vào. Ngài sẽ quét khỏi chúng ta những rác rưởi của tội lỗi và thói quen xấu, Ngài sẽ dẫn dắt con thuyền cuộc đời chúng ta đi đúng theo con đường Chúa muốn. Thánh Thần sẽ là sức mạnh giúp chúng ta can đảm nhiệt thành bước ra với thế giới và dùng chúng ta như tác nhân biến đổi cuộc sống thế giới nên tốt đẹp hơn, theo đúng ý Chúa hơn.
Lạy Chúa Thánh Thần xin ngự đến và biến đổi tâm hồn mỗi người chúng con. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA THĂNG THIÊN

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016
CHÚA VỀ TRỜI NHƯNG VẪN Ở LẠI

Nhà du hành vũ trụ người Nga sau khi trở về từ trạm không gian đã tuyên bố : Tôi không thấy thiên đàng ở đâu cả ! Trái lại, nhà tư tưởng Pascal sau khi nhìn vào kính thiên văn, ông đã nói : Tôi thấy Thiên Chúa bay ngang qua ống kiếng của tôi  ! Gần đây hơn, các nhà khoa học Mỹ khi nghiên cứu về sự hình thành vũ trụ đã tuyên bố : Chúng tôi đã thấy dấu vết bàn tay của Thiên Chúa.
Sự hiện diện và vắng mặt của Thiên Chúa trong cuộc sống và trong thế giới luôn là một thách thức đối với niềm tin của nhiều người. Có người cho rằng, Chúa Giêsu lên trời là chấm dứt tất cả sứ mạng của Ngài, Ngài không còn liên hệ gì với thế gian này nữa và cũng không còn ảnh hưởng nhiều trên cuộc sống cá nhân người tín hữu nữa. Các bài đọc của ngày lễ Chúa Giêsu lên trời hôm nay muốn khẳng định một giáo lý hết sức quan trọng : Chúa Giêsu kết thúc sứ mạng của Ngài tại trần gian, nhưng Ngài không bỏ thế giới này. Ngài không cắt đứt mối liên hệ với con người, nhưng chỉ là thay đổi cách thức hiện diện và hoạt động mà thôi. Ngài không hiện diện với con người bằng thân xác hữu hình như trước đây nữa, nhưng Ngài hiện diện cách vô hình, song lại có thể can thiệp cách mạnh mẽ để bảo vệ con người. Chúa Giêsu đã từng mang thân phận con người, nên đã thuộc về thế giới này, Ngài không thể bỏ con người. Ngài về trời, tức là Ngài trở về trong vinh quang của một một vị Thiên Chúa, như một hoàng đế chiến thắng trở về trong tiếng ca khải hoàn vinh quang. Ngài vẫn tiếp tục yêu thương dẫn dắt chúng ta.
Các tông đồ là nhưng người đã hiểu và đã tin vào sự hiện diện vắng mặt này của Chúa Giêsu, nên các ông vẫn hăng say làm việc như là Chúa vẫn đang hiện diện cụ thể bên các ông. Đoạn mở đầu Sách Công Vụ Tông Đồ cho thấy những bước ngoặt quan trọng làm thay đổi các tông đồ. Tác giả lược lại vắn tắt cuộc đời tại dương thế của Chúa Giêsu Nazaret. Ngài chính là vị Thiên Chúa đến ở với con người, Ngài đã sống và rao giảng Tin Mừng trong toàn cõi Giuđêa, cuối cùng Ngài đã chết và đã sống lại. Sau khi sống lại, Ngài đã hiện ra trò chuyện, ăn uống với các tông đồ và Ngài nói trước cho các ông về việc Ngài sẽ rời khỏi các ông và sẽ trao ban Thánh Thần cho các ông.
Chúa về trời, Ngài thay đổi cách thức hiện diện với nhân loại. Ngài không hiện diện bằng thể xác như trước đây, nhưng Ngài hiện diện bằng quyền năng Thánh Thần của Ngài, Đấng Ngài sai đến từ nơi Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu không muốn các tông đồ bị bó hẹp trong những lợi ích, ranh giới quốc gia nhỏ hẹp, không chỉ nghĩ đến việc khôi phục vương quốc Israel, nhưng Ngài đã mở ra cho các tông đồ một chân trời mới rộng lớn hơn, vượt mọi ranh giới quốc gia, để hòa mình vào thế giới, trong quyền năng và kế hoạch của Thiên Chúa. Một khi được đón nhận quyền năng của Chúa Thánh Thần, các tông đồ không còn bị giới hạn bởi bất cứ rào cản nào, nhưng phải trở thành chứng nhân của Chúa, khởi đầu từ Giêrusalem cho đến tận cùng trái đất. Trong sứ mạng này, Chúa Giêsu hứa sẽ ở bên các ông và cùng hoạt động với các ông nhờ Thánh Thần của Người.
Tác giả sách Công Vụ kể tiếp : Chúa Giêsu được cất lên ngay trước mặt các tông đồ và có đám mây quyện lấy Người khiến các ông không còn thấy Người nữa. Như thế, Kinh Thánh muốn nhấn mạng rằng : Chúa Giêsu được cất lên, không phải là đi vào một hành tinh xa xôi, nhưng Ngài vẫn ở trên cao, ngay trước mắt các tông đồ và mỗi chúng ta. Chỉ vì bị giới hạn bởi mắt thịt, bị che khuất bởi những đám mây là giới hạn của con người, bởi những hào nhoáng của vật chất, khiến chúng ta không thể nhìn thấy Ngài.
Sách Công Vụ kể tiếp : Lúc các ông còn mải nhìn lên trời, thì có hai thiên thần mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói : Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời ?  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông về trời cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. Thánh Gioan còn ghi thêm cảm nhận và tâm trạng của các tông đồ : Các ông bái lậy Người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỉ và hằng ở trong đền thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
Cho đến lúc này, chứng tỏ các tông đồ đã nhận ra Thầy của mình chính là Thiên Chúa, vì thế, họ bái lậy Người như họ vẫn bái lậy Thiên Chúa của Israel. Họ chia tay Chúa Giêsu không phải trong buồn thảm, nhưng trong sự hân hoan vui mừng. Các tông đồ hân hoan vui mừng vì từ nay, Chúa Giêsu sẽ hiện diện với các ông trong từng lời nói và hành động. Các ông sẽ không còn co cụm tại Giêrusalem, cũng không chỉ đứng ngước mắt nhìn trời, nhưng Chúa muốn các ông trở về với cuộc sống thường ngày để nói cho mọi người và chỉ cho mọi người thấy Chúa đang hiện diện và hoạt động trong các ông.
Mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc chúng ta đã về trời trong vinh quang của Thiên Chúa. Chúng ta tin rằng, vì đã từng chia sẻ thân phận với con người, Ngài dễ dàng cảm thông với thân phận con người chúng ta. Giờ đây, trong vinh quang của Thiên Chúa, Ngài vẫn luôn hiện diện, che chở và dẫn dắt thế giới và mỗi người ta qua mọi chặng đường cuộc sống.
Tuy tin vào Chúa Giêsu, Đấng quyền năng đang hiện diện, nhưng khi gặp thử thách, nhiều người vẫn  bị chao đảo. Những khi rơi vào vực thẳm tăm tối không lối thoát, chúng ta cảm thấy dường như Chúa vẫn im lặng, Chúa vẫn ẩn mặt làm ngơ. Có những người trong cơn cùng cực đã oán trách : Chúa ở đâu ? Chúa có thấy nỗi khổ của tôi không ? Nhiều người khác đã sống như thể là Thiên Chúa không còn hiện diện trong cuộc đời của họ. Vì thế, họ sống một cuộc sống buông xuôi, không cầu nguyện, thiếu tin tưởng, họ cho rằng tự mình có thể giải quyết được tất cả mọi sự mà không cần Thiên Chúa.
Vì không nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, nhiều người đã sống như kẻ không niềm tin, không hi vọng, sống trong buồn chán, hoặc sống cách buông thả. Người khác lại sống như thể không có Chúa bên mình, nên họ gian dối, quanh co và làm những điều bất công gian ác.
Sau biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, một cô gái, con một vị giảng thuyết nổi tiếng trả lời phỏng vấn trên truyền hình. Người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô như sau : Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy ?
Thiếu nữ này trả lời thật thâm thúy : “Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Ngài là người “quân tử” nên đã lẳng lặng rút lui. Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài để mặc chúng ta một mình ? Về những biến cố mới xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh …, tôi nghĩ rằng, mọi sự đã bắt đầu với việc người ta đề nghị không nên đọc kinh cầu nguyện nữa. Và chúng ta đã đồng ý”.
Thật kỳ lạ là con người có thể vứt bỏ Chúa một cách dễ dàng rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới nhiều sự ác và biến thành địa ngục. Thật kỳ lạ là chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh và Giáo Hội nói. Thật kỳ lạ là chúng ta nói với nhau đủ điều, đủ chuyện, nhưng khi nói về Thiên Chúa thì chúng ta lại đắn đo suy nghĩ và ngại ngùng.
Chúa lên trời, Ngài để lại sự nghiệp của Ngài cho chúng ta và muốn chúng ta tiếp tục sứ mạng của Ngài. Xin cho chúng ta luôn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi hoàn cảnh và xin Chúa giúp ta trở thành người không mệt mỏi nói về Chúa cho anh chị em. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT VI PS

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016
Theo Thần thoại Hy Lạp"  Eros là vị thần tình yêu. Thần Eros luôn mang một cây cung và những mũi tên ái tình bên mình. Khi Eros bắn những mũi tên này vào ai đó thì ngay lập tức, người đó sẽ yêu người khác giới đầu tiên gặp được nếu không phải là người có quan hệ huyết thống hay họ hàng. Do thần Eros là một đứa trẻ hay nghịch ngợm và thiếu trách nhiệm nên đã gây ra nhiều chuyện dở khóc dở cười, làm cho nhiều người phải đau khổ.
Trong Kitô Giáo cũng nói đến một Vị Thần Tình Yêu, nhưng hoàn toàn khác với Eros. Vị Thần Tình Yêu của chúng ta chính là Chúa Thánh Thần, Đấng được Chúa Giêsu mạc khải là Ngôi Ba Thiên Chúa và là Thiên Chúa quyền năng. Ngài không dùng mũi tên tình yêu để bắn vào trái tim, nhưng Ngài là chính Tình yêu, là ngọn lửa mến đốt cháy tâm hồn tín hữu và là Đấng Bảo Trợ hướng dẫn đời sống tín hữu. Ngài hiện hữu từ muôn thuở và hoạt mạnh mẽ trong cuộc đời Chúa Giêsu và còn tiệp tục hoạt động trong Giáo Hội và nơi mỗi chúng ta.
Hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải về Chúa Thánh Thần như là Thần của Tình yêu, là Đấng Bảo trợ an ủi và là Đấng soi sáng chỉ dạy mỗi người. Là Thần Tình yêu, vì Ngài chính là Tình Yêu nhiệm màu của Thiên Chúa, từ nơi Thiên Chúa được ban cho thế gian. Ngài trở thành tác nhân, là động lực thúc đẩy chúng ta yêu mến Thiên Chúa. Nói đúng hơn, với khả năng và giới hạn của trái tim, con người không thể yêu mến Thiên Chúa như Ngài mong đợi nếu không có Chúa Thánh Thần thúc đẩy và tác động. Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy : Chúa Thánh thần sẽ giúp chúng ta yêu mến Chúa Giêsu và thực hành lời Chúa Giêsu chỉ dạy. Thánh Thần sẽ làm cho chúng ta trở nên những người học trò ngoan khi chúng ta dám để cho Ngài soi sáng, chỉ bảo. Ngài sẽ giúp ta nhận ra sự chỉ dạy của Chúa Giêsu và thực hành trong cuộc đời. Một khi chuyên chăm lắng nghe và thực hành Lời Chúa Giêsu, chúng ta trở nên bạn, nên anh em với Chúa Giêsu và được Chúa Cha thương mến. Lời Chúa Giêsu sẽ uốn nắn cuộc sống chúng ta và Chúa Thánh Thần sẽ trang điểm cho chúng ta bằng tình yêu để chúng ta trở nên người con ngoan, dễ thương trước mặt Chúa.
Khi có lòng yêu mến và thực hành Lời Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần sẽ đốt nóng tâm hồn chúng ta, đốt cháy cả những thói hư tật xấu. Ngài trang hoàng tâm hồn tín hữu nên xứng đáng là đền thờ cho Thiên Chúa cư ngụ. Khi đó, Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha sẽ đến và ở trong tâm hồn những kẻ yêu mến Ngài. Ngược lại, khi từ chối Thánh Thần của Thiên Chúa, từ chối đón nhận và thực hành lời Chúa Giêsu, tâm hồn đó sẽ trở thành sa mạc khô cằn, không sức sống, và còn là hang ổ cho ma quỷ và sự dữ trú chân.
Là Đấng Bảo Trợ, có nghĩa là Thánh Thần được Chúa Cha sai đến để bảo vệ và trợ giúp các tín hữu. Ngài sẽ bảo vệ chúng ta khỏi sự tấn công của ma quỷ và sự dữ, vì Ngài là sức mạnh của Thiên Chúa. Thánh Thần bảo vệ chúng ta khỏi sự khô khan chai đá trong tâm hồn vì Ngài là Tình Yêu và là Đấng đổi mới đời sống tín hữu. Thánh Thần sẽ trợ giúp để chúng ta có thể chiến đấu và chiến thắng ma quỷ, dục vọng và xác thịt. Thánh Thần giúp chúng ta hiểu Lời Chúa, giúp nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta và là Đấng đem lại sự bình an trong tâm hồn.
Trong đoạn cuối bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã hứa để lại cho các môn đệ một món quà hết sức đặc biệt, đó là sự bình an. Chúa Giêsu khẳng định rằng, bình an của Chúa khác hẳn sự bình an theo kiểu thế gian. Bình an của thế gian chỉ là sự an bình ở bên ngoài, trên bề mặt, giống như mặt nước phẳng lặng nhưng dưới sâu, bên trong, lại là dòng chảy cuồn cuộn. Bình an của Chúa Giêsu là sự bình an từ trong tâm hồn lan tỏa ra bên ngoài. Đó là sự bình an của những tâm hồn sạch tội, có lương tâm ngay thẳng, có một cuộc sống không gian dối.
Hơn nữa, bình an Chúa Giêsu ban cho các tông đồ là sự bình an vì tin rằng Chúa không bao giờ lìa xa chúng ta, Ngài luôn hiện diện bên cạnh và bên trong mỗi người. Ngài không còn hiện diện bằng thể xác với các môn đệ, nhưng Ngài vẫn hiện diện bằng quyền năng và sự bảo vệ của Ngài. Một khi sống với Chúa bằng tình yêu mến, chúng ta sẽ luôn nhìn thấy Ngài đang hiện diện bên chúng ta.
Các tông đồ là những người đã đón nhận Chúa Thánh Thần từ nơi Chúa Giêsu, từ đó, các ông mạnh dạn và miệt mài làm việc trong sự hiện diện của Chúa Phục Sinh và hoạt động trong sự hướng dẫn của Thánh Thần. Mỗi khi có khó khăn hoặc có vấn đề nảy sinh trong Giáo Hội, các tông đồ lại nại đến Chúa Thánh Thần như là cố vấn kỳ diệu, là điểm tựa vững chắc cho mọi quyết định của mình.
Sách Công vụ cho thấy một vấn đề lớn nảy sinh trong Giáo Hội sơ khai, khi những người dân ngoại tin vào Chúa Giêsu ngày càng đông. Vấn đề được những người bảo thủ đặt ra là : Những người dân ngoại tin theo chúa Giêsu cũng phải chịu phép cắt bì và tuân giữ luật Môsê. Ông Phaolô và Barnaba đã cử người đến gặp Simon Phêrô và các tông đồ để trình bày vấn đề và xin ý kiến của vị thủ lãnh Giáo Hội. Phêrô và các anh em tông tồ tại Giêrusalem đã họp lại và đưa ra một quyết định hết sức quan trọng : Thánh Thần và chúng tôi quyết định : Không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết.
Quyết định này là quyết định hết sức quan trọng. Kể từ đây, Giáo Hội sơ khai hoàn toàn tách khỏi Do Thái Giáo và các sinh hoạt theo tục lệ đạo Do Thái để bước vào giai đoạn mới. Quyết định này không phải là của riêng các tông đồ, nhưng là do Thánh Thần và chúng tôi quyết định. Điều đó chứng tỏ Chúa Thánh Thần luôn hoạt động cách cụ thể và sinh động trong Giáo Hội, giúp Giáo Hội đi theo đúng con đường của Chúa Giêsu.
Cho đến ngày nay, Thánh Thần Tình yêu và Bình an vẫn đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và nơi mỗi tín hữu. Thánh Thần đang thôi thúc Giáo Hội không mệt mỏi để đem tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa đến cho thế giới. Nếu như Thánh Thần Thiên Chúa là nguồn tình yêu không bao giờ vơi cạn đã được trao ban cho Giáo Hội, thì Giáo hội cũng không ngừng nghỉ thông chuyển tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người. Cùng với Đức Thánh Cha, vị cha chung của Giáo Hội hôm nay, Giáo Hội đang cùng nhau đi ra khắp mọi ngõ ngách của xã hội, đi tới những vùng ven, đến với những người sống bên lề xã hội, những người di dân, để chia sẻ và nâng đỡ, an ủi họ.
Là những Kitô hữu, tất cả chúng ta đều đã được lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Chúng ta được mời gọi để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong chúng ta và sẵn sàng vâng nghe sự soi sáng của Ngài. Cuộc sống bộn bề, sức ép của cơm áo gạo tiền và những cám dỗ của xã hội khiến nhiều người đã không còn nghe được tiếng nhắc nhở và sự soi sáng của Thánh Thần. Thánh Thần nhắc cho chúng ta nhớ những Lời Chúa dạy và các giới răn lệnh truyền của Chúa. Hãy tin tưởng, mạnh dạn làm theo sự hướng dẫn của Ngài. Thánh Thần thêm sức mạnh để chúng ta dám chọn lựa sống và hành động theo đúng luật Chúa, đừng cưỡng lại sự trợ giúp của Ngài.
Miền Tây và nhiều nơi trong cả nước ta đang bị nắng hạn, ruộng đồng nứt nẻ, cỏ cây khô cháy, các dòng sông bị nước mặn xâm nhập hủy hoại mùa màng và các hệ động thực vật ven sông. Tâm hồn con người nếu không có Thánh Thần Tình Yêu cũng sẽ bị khô hạn, nứt nẻ như vậy. Từ chối sự hiện hiện diện soi sáng của Thánh Thần, tâm hồn chúng ta không chỉ như một vùng cằn cỗi chết chóc, mà những dòng nước mặn là dục vọng, ích kỷ, gian ác sẽ xâm lấn cuộc đời và hủy hoại tâm hồn chúng ta.
Chúa Giêsu Phục Sinh là Đấng ban Chúa Thánh Thần trên chúng ta, Ngài là Thần Bảo Trợ sẽ bảo bọc, trợ giúp chúng ta trong mọi hoàn cảnh, chỉ cần chúng ta biết tin tưởng cầu xin sự hướng dẫn của Ngài. Thánh Thần sẽ nhắc cho chúng ta nhớ lại Lời Chúa Giêsu truyền dạy, chỉ cần chúng ta để tâm lắng nghe và thi hành. Ngài là vị Thần Tình yêu và Bình an xin cho chúng ta cũng biết mở lòng để cho Ngài ngự vào tâm hồn. Xin Ngài uốn nắn trái tim và cuộc sống chúng ta, để chúng ta có được một trái tim yêu mạnh mẽ, một tâm hồn rộng mở và trở thành sứ giả đem bình an của Chúa đến cho thế giới. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc
Thần thoại Hy Lạp" thần thoại Hy Lạp, Eros là vị thần tình yêu. Thần Eros luôn mang một cây cung và những mũi tên ái tình bên mình. Khi Eros bắn những mũi tên này vào ai đó thì ngay lập tức, người đó sẽ yêu người khác giới đầu tiên gặp được nếu không phải là người có quan hệ huyết thống hay họ hàng. Do thần Eros là một đứa trẻ hay nghịch ngợm và thiếu trách nhiệm nên đã gây ra nhiều chuyện dở khóc dở cười, làm cho nhiều người phải đau khổ.
Trong Kitô Giáo cũng nói đến một Vị Thần Tình Yêu, nhưng hoàn toàn khác với Eros. Vị Thần Tình Yêu của chúng ta chính là Chúa Thánh Thần, Đấng được Chúa Giêsu mạc khải là Ngôi Ba Thiên Chúa và là Thiên Chúa quyền năng. Ngài không dùng mũi tên tình yêu để bắn vào trái tim, nhưng Ngài là chính Tình yêu, là ngọn lửa mến đốt cháy tâm hồn tín hữu và là Đấng Bảo Trợ hướng dẫn đời sống tín hữu. Ngài hiện hữu từ muôn thuở và hoạt mạnh mẽ trong cuộc đời Chúa Giêsu và còn tiệp tục hoạt động trong Giáo Hội và nơi mỗi chúng ta.
Hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải về Chúa Thánh Thần như là Thần của Tình yêu, là Đấng Bảo trợ an ủi và là Đấng soi sáng chỉ dạy mỗi người. Là Thần Tình yêu, vì Ngài chính là Tình Yêu nhiệm màu của Thiên Chúa, từ nơi Thiên Chúa được ban cho thế gian. Ngài trở thành tác nhân, là động lực thúc đẩy chúng ta yêu mến Thiên Chúa. Nói đúng hơn, với khả năng và giới hạn của trái tim, con người không thể yêu mến Thiên Chúa như Ngài mong đợi nếu không có Chúa Thánh Thần thúc đẩy và tác động. Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy : Chúa Thánh thần sẽ giúp chúng ta yêu mến Chúa Giêsu và thực hành lời Chúa Giêsu chỉ dạy. Thánh Thần sẽ làm cho chúng ta trở nên những người học trò ngoan khi chúng ta dám để cho Ngài soi sáng, chỉ bảo. Ngài sẽ giúp ta nhận ra sự chỉ dạy của Chúa Giêsu và thực hành trong cuộc đời. Một khi chuyên chăm lắng nghe và thực hành Lời Chúa Giêsu, chúng ta trở nên bạn, nên anh em với Chúa Giêsu và được Chúa Cha thương mến. Lời Chúa Giêsu sẽ uốn nắn cuộc sống chúng ta và Chúa Thánh Thần sẽ trang điểm cho chúng ta bằng tình yêu để chúng ta trở nên người con ngoan, dễ thương trước mặt Chúa.
Khi có lòng yêu mến và thực hành Lời Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần sẽ đốt nóng tâm hồn chúng ta, đốt cháy cả những thói hư tật xấu. Ngài trang hoàng tâm hồn tín hữu nên xứng đáng là đền thờ cho Thiên Chúa cư ngụ. Khi đó, Chúa Giêsu và Thiên Chúa Cha sẽ đến và ở trong tâm hồn những kẻ yêu mến Ngài. Ngược lại, khi từ chối Thánh Thần của Thiên Chúa, từ chối đón nhận và thực hành lời Chúa Giêsu, tâm hồn đó sẽ trở thành sa mạc khô cằn, không sức sống, và còn là hang ổ cho ma quỷ và sự dữ trú chân.
Là Đấng Bảo Trợ, có nghĩa là Thánh Thần được Chúa Cha sai đến để bảo vệ và trợ giúp các tín hữu. Ngài sẽ bảo vệ chúng ta khỏi sự tấn công của ma quỷ và sự dữ, vì Ngài là sức mạnh của Thiên Chúa. Thánh Thần bảo vệ chúng ta khỏi sự khô khan chai đá trong tâm hồn vì Ngài là Tình Yêu và là Đấng đổi mới đời sống tín hữu. Thánh Thần sẽ trợ giúp để chúng ta có thể chiến đấu và chiến thắng ma quỷ, dục vọng và xác thịt. Thánh Thần giúp chúng ta hiểu Lời Chúa, giúp nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta và là Đấng đem lại sự bình an trong tâm hồn.
Trong đoạn cuối bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã hứa để lại cho các môn đệ một món quà hết sức đặc biệt, đó là sự bình an. Chúa Giêsu khẳng định rằng, bình an của Chúa khác hẳn sự bình an theo kiểu thế gian. Bình an của thế gian chỉ là sự an bình ở bên ngoài, trên bề mặt, giống như mặt nước phẳng lặng nhưng dưới sâu, bên trong, lại là dòng chảy cuồn cuộn. Bình an của Chúa Giêsu là sự bình an từ trong tâm hồn lan tỏa ra bên ngoài. Đó là sự bình an của những tâm hồn sạch tội, có lương tâm ngay thẳng, có một cuộc sống không gian dối.
Hơn nữa, bình an Chúa Giêsu ban cho các tông đồ là sự bình an vì tin rằng Chúa không bao giờ lìa xa chúng ta, Ngài luôn hiện diện bên cạnh và bên trong mỗi người. Ngài không còn hiện diện bằng thể xác với các môn đệ, nhưng Ngài vẫn hiện diện bằng quyền năng và sự bảo vệ của Ngài. Một khi sống với Chúa bằng tình yêu mến, chúng ta sẽ luôn nhìn thấy Ngài đang hiện diện bên chúng ta.
Các tông đồ là những người đã đón nhận Chúa Thánh Thần từ nơi Chúa Giêsu, từ đó, các ông mạnh dạn và miệt mài làm việc trong sự hiện diện của Chúa Phục Sinh và hoạt động trong sự hướng dẫn của Thánh Thần. Mỗi khi có khó khăn hoặc có vấn đề nảy sinh trong Giáo Hội, các tông đồ lại nại đến Chúa Thánh Thần như là cố vấn kỳ diệu, là điểm tựa vững chắc cho mọi quyết định của mình.
Sách Công vụ cho thấy một vấn đề lớn nảy sinh trong Giáo Hội sơ khai, khi những người dân ngoại tin vào Chúa Giêsu ngày càng đông. Vấn đề được những người bảo thủ đặt ra là : Những người dân ngoại tin theo chúa Giêsu cũng phải chịu phép cắt bì và tuân giữ luật Môsê. Ông Phaolô và Barnaba đã cử người đến gặp Simon Phêrô và các tông đồ để trình bày vấn đề và xin ý kiến của vị thủ lãnh Giáo Hội. Phêrô và các anh em tông tồ tại Giêrusalem đã họp lại và đưa ra một quyết định hết sức quan trọng : Thánh Thần và chúng tôi quyết định : Không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết.
Quyết định này là quyết định hết sức quan trọng. Kể từ đây, Giáo Hội sơ khai hoàn toàn tách khỏi Do Thái Giáo và các sinh hoạt theo tục lệ đạo Do Thái để bước vào giai đoạn mới. Quyết định này không phải là của riêng các tông đồ, nhưng là do Thánh Thần và chúng tôi quyết định. Điều đó chứng tỏ Chúa Thánh Thần luôn hoạt động cách cụ thể và sinh động trong Giáo Hội, giúp Giáo Hội đi theo đúng con đường của Chúa Giêsu.
Cho đến ngày nay, Thánh Thần Tình yêu và Bình an vẫn đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và nơi mỗi tín hữu. Thánh Thần đang thôi thúc Giáo Hội không mệt mỏi để đem tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa đến cho thế giới. Nếu như Thánh Thần Thiên Chúa là nguồn tình yêu không bao giờ vơi cạn đã được trao ban cho Giáo Hội, thì Giáo hội cũng không ngừng nghỉ thông chuyển tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người. Cùng với Đức Thánh Cha, vị cha chung của Giáo Hội hôm nay, Giáo Hội đang cùng nhau đi ra khắp mọi ngõ ngách của xã hội, đi tới những vùng ven, đến với những người sống bên lề xã hội, những người di dân, để chia sẻ và nâng đỡ, an ủi họ.
Là những Kitô hữu, tất cả chúng ta đều đã được lãnh nhận Chúa Thánh Thần trong ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Chúng ta được mời gọi để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong chúng ta và sẵn sàng vâng nghe sự soi sáng của Ngài. Cuộc sống bộn bề, sức ép của cơm áo gạo tiền và những cám dỗ của xã hội khiến nhiều người đã không còn nghe được tiếng nhắc nhở và sự soi sáng của Thánh Thần. Thánh Thần nhắc cho chúng ta nhớ những Lời Chúa dạy và các giới răn lệnh truyền của Chúa. Hãy tin tưởng, mạnh dạn làm theo sự hướng dẫn của Ngài. Thánh Thần thêm sức mạnh để chúng ta dám chọn lựa sống và hành động theo đúng luật Chúa, đừng cưỡng lại sự trợ giúp của Ngài.
Miền Tây và nhiều nơi trong cả nước ta đang bị nắng hạn, ruộng đồng nứt nẻ, cỏ cây khô cháy, các dòng sông bị nước mặn xâm nhập hủy hoại mùa màng và các hệ động thực vật ven sông. Tâm hồn con người nếu không có Thánh Thần Tình Yêu cũng sẽ bị khô hạn, nứt nẻ như vậy. Từ chối sự hiện hiện diện soi sáng của Thánh Thần, tâm hồn chúng ta không chỉ như một vùng cằn cỗi chết chóc, mà những dòng nước mặn là dục vọng, ích kỷ, gian ác sẽ xâm lấn cuộc đời và hủy hoại tâm hồn chúng ta.
Chúa Giêsu Phục Sinh là Đấng ban Chúa Thánh Thần trên chúng ta, Ngài là Thần Bảo Trợ sẽ bảo bọc, trợ giúp chúng ta trong mọi hoàn cảnh, chỉ cần chúng ta biết tin tưởng cầu xin sự hướng dẫn của Ngài. Thánh Thần sẽ nhắc cho chúng ta nhớ lại Lời Chúa Giêsu truyền dạy, chỉ cần chúng ta để tâm lắng nghe và thi hành. Ngài là vị Thần Tình yêu và Bình an xin cho chúng ta cũng biết mở lòng để cho Ngài ngự vào tâm hồn. Xin Ngài uốn nắn trái tim và cuộc sống chúng ta, để chúng ta có được một trái tim yêu mạnh mẽ, một tâm hồn rộng mở và trở thành sứ giả đem bình an của Chúa đến cho thế giới. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH :

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2016
 YÊU THƯƠNG LÀ GIỚI RĂN MỚI
Cuối tháng ba vừa qua, trước khi bị bãi nhiệm, Thủ tướng Việt Nam có lời chia tay với các thành viên chính phủ. Ông cầu chúc cho những người nghỉ hưu có sức khỏe và còn căn căn dặn mọi thành viên : Hãy ráng sống cho tử tế. Lập tức, chủ đề sống tử tế được các trang mạng và báo chí đề cập đến nhiều hơn. Có người cho rằng sau sự nghiệp chính trường, ông đã có đầy đủ mọi thứ, chỉ còn thiếu một điều, đó là sự tử tế. Người khác cho rằng không chỉ riêng cá nhân ông, mà cả xã hội Việt Nam, nhất là trong chốn quan trường, điều đang thiếu trầm trọng nhất đó là sự tử tế đối với nhau. Nhận định đó có lẽ không sai, vì thực tế con người ngày nay sống và cư xử với nhau thiếu tình yêu thương, thiếu sự tử tế và cũng không quan tâm đến việc đối xử tử tế với nhau.
Là con cái Chúa, chúng ta được mời gọi sống và cư xử với nhau bằng tình yêu thương và lòng nhân ái trong bất cứ hoàn cảnh nào, vì chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta : Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. 
Chúa Giêsu truyền cho chúng ta giới răn mới này trong bữa tiệc ly, khi Giuđa vừa rời khỏi phòng tiệc. Trong  khung cảnh của bữa tiệc ly, khi Chúa Giêsu sống những giờ phút cuối cùng thật thân thương với các môn đệ, thì Giuđa đã vì tiền mà phản bội lại Thầy, anh đối xử thiếu tử tế với Thầy và với anh em. Trong cuộc sống, tiền bạc có thể biến người ta trở thành kẻ thù của nhau, cư xử độc ác với nhau. Cũng vì tiền bạc, người ta có thể đánh mất sự tử tế phải có trong con người. Giuđa đã đánh mất tình yêu và sự lương thiện trong tâm hồn nên anh đã hành động bất lương và bất nhân như thế.
Chúa Giêsu, dù đối diện với hành động bất nhân của Giuđa, Ngài không phản ứng giận dữ, cũng không muốn các tông đồ có cái nhìn khác về Giuđa, trái lại, Ngài hướng lòng các môn đệ về với Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu đã dùng lời lẽ hết sức thân thương để nói với các môn đệ : Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy, …Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau.
Gọi là giới răn mới, vì giới răn yêu thương của Chúa Giêsu vượt trội hơn giới răn của Cựu Ước. Giới răn yêu thương của Cựu Ước bị giới hạn trong phạm vi dòng tộc, quốc gia, có ranh giới giữa bạn và thù. Còn giới răn mới của Chúa Giêsu đòi hỏi một tình yêu không giới hạn, không biên giới và không còn phân biệt bạn thù, vì tất cả mọi người đều cần được yêu thương và môn đệ của Chúa phải dám yêu thương không giới hạn.
Gọi là giới răn mới, vì giới răn này đòi phải có những con người có tinh thần được đổi mới. Con người cũ là con người bị ảnh hưởng của tội lỗi, của cái tôi và sự ích kỷ. Con người mới là con người đã được Tin Mừng của Chúa Giêsu biến đổi, có một trái tim quảng đại, một tấm lòng chạnh thương mới có thể sống theo luật mới của Chúa.
Chúa Giêsu còn muốn chúng ta : Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Tức là, chúng ta không chỉ yêu thương nhau theo cảm xúc tự nhiên, mà còn phải yêu thương nhau như đã được Chúa yêu. Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta không chỉ như tình yêu của cha mẹ dành cho con cái, Ngài còn yêu thương đến nỗi chấp nhận từ bỏ địa vị của mình để đến ở với con người. Ngài cùng chia vui sẻ buồn với thân phận con người chúng ta, sẵn sàng tha thứ khi chúng ta phản bội Ngài. Ngài không kết án khi chúng ta phạm tội, nhưng luôn cho chúng ta có cơ hội để sửa chữa sai lầm. Ngài chạnh thương khi thấy chúng ta bơ vơ đói khổ, đã cúi xuống để yêu thương, phục vụ và rửa chân cho các môn đệ. Sau cùng, Ngài đã chấp nhận chết thay để cho chúng ta được sống. Như thế, yêu như Chúa đã yêu tức là dám sống và hành động yêu thương như chính Chúa Giêsu. Sống yêu thương sẽ là dấu hiệu đặc trưng của người môn đệ Chúa. Mọi người sẽ nhận ra chúng ta thuộc về Chúa Giêsu khi chúng ta sống yêu thương.
Đón nhận giới răn yêu thương, chúng ta được mời gọi phải thực hành và đem tình yêu thương vào xã hội hôm nay. Xã hội chúng ta đang sống dường như vắng bóng của tình yêu. Những gương sống cao đẹp, nhân ái, tử tế với nhau càng ngày càng khan hiếm. Trái lại, sự ích kỷ, bất công, gian dối và cái ác ngày càng gia tăng và gây đau khổ cho nhiều người. Con người cư xử với nhau thiếu tử tế, nhưng thừa bạo lực ; tình trạng tội ác, giết người xảy ra thường xuyên. Không ở đâu trở nên tồi tệ như tại Việt Nam, người ta sống bần cùng đến độ phải đi ăn cắp con chó ; cũng không ở đâu người ta cư xử với nhau ác như ở Việt Nam, chỉ vì một con chó, kẻ trộm chó bị cả làng kéo ra đánh cho đến chết.
Với một tinh thần mới, các tông đồ đã hăng hái lên đường rao truyền Tin Mừng yêu thương của Chúa cho mọi người, dù phải trải qua biết bao khó khăn, thử thách. Tiếp nối bước chân các Ngài, các tín hữu ngày nay được mời gọi đem tình yêu thương của Chúa đến với những người đau khổ, bất hạnh, bắt đầu từ nơi giáo xóm cho đến các vùng truyền giáo xa xôi. Cần bắt đầu từ những việc nhỏ trong cuộc sống hằng ngày, bằng cách gia tăng vị ngọt của tình yêu vào mọi lời nói, mọi cách cư xử.
Việt Nam đã bị loại ra khỏi danh sách những nơi đáng sống vì lý do người ta không cảm thấy an toàn thoải mái, bầu khí không thân thiện, con người đối xử với nhau thiếu lịch sự văn minh. Nếu đánh giá khách quan, liệu môi trường giáo xứ chúng ta có phải là môi trường đáng sống hay không ?
Nhờ ơn Bí tích Rửa tội, chúng ta đã trở thành con người mới, do đó, chúng ta phải sống và thực hành giới răn mới của Chúa Giêsu là : Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Cuộc sống chạy theo vật chất đang biến con người trở thành ích kỷ. Sự ích kỷ chính là thuốc độc, là khối u ung thư đang từng ngày giết chết tình yêu trong tâm hồn, phá hủy các tương quan giữa con người với nhau. Để sống và thực hành giới răn yêu thương của Chúa, đòi chúng ta phải chấp nhận cắt bỏ khối u ích kỷ này để có thể nghĩ đến và quan tâm tới người khác.
Tình yêu không chỉ dừng lại nơi sự quan tâm, Chúa còn đòi chúng ta bước xa hơn, đó là phải yêu như Chúa đã yêu. Có nghĩa là chúng ta phải dám mở toang tâm hồn, mở rộng đôi tay và mở rộng cửa nhà, để cho tình yêu của mình tuôn tràn đến mọi người một cách quảng đại, không giới hạn, không điều kiện. Hơn nữa, yêu như Chúa yêu có nghĩa là chúng ta phải dám chấp nhận sự thua thiệt về phía mình, dám chấp nhận hy sinh quyền lợi, và nếu cần, hi sinh cả cuộc sống cho những anh chị em chung quanh.
Hãy bắt đầu sống và thực hành giới răn yêu thương từ trong gia đình bằng việc nói với nhau cách bao dung thông cảm hơn, cư xử với nhau tử tế hơn, giàu lòng nhân ái, nhân văn hơn. Tình yêu và sự hy sinh của cha mẹ dành cho con cái thật thiêng liêng. Tuy nhiên, nhiều cha mẹ đã để cho tình cảm này trở nên xuống cấp, vấy bẩn bởi sự so đo tính toán với con cái. Chỉ khi được sống trong tình yêu và hạnh phúc thật, con trẻ mới có thể phát triển một cách quân bình và có một tâm hồn biết yêu thương.
Kế đến, hãy thực thi giới răn yêu thương nơi anh chị em trong gia đình và nơi lối xóm, bằng việc sống với nhau cách quảng đại, liên đới, cư xử với nhau cách văn minh lịch sự. Tiền bạc và quyền lợi có thể dễ dàng phá vỡ tình anh em trong gia đình, tình xóm ngõ. Anh em trong nhà, bà con trong xóm, có thể chỉ vì một lời nói, một chút của cải, vì cách cư xử thiếu tình yêu, thiếu tử tế, thiếu lịch sự có thể làm tổn thương, sứt mẻ  tình anh em và láng giềng. Thực hiện giới răn yêu thương, chúng ta cần làm cho tình anh em gia đình ngày thêm găn bó, tình xóm ngõ ngày thêm bền chặt. Mỗi người cần biết hy sinh lợi ích riêng mình để vun đắp cho lợi ích chung.
Xã hội là môi trường chúng ta phải sống và thực hành giới răn yêu thương của Chúa. Chúng ta chưa cần làm những việc to lớn, nhưng hãy bắt đầu bằng những việc nhỏ. Mỗi người hãy góp cho xã hội nhiều nụ cười hơn, nhiều cử chỉ đẹp và nhiều lòng nhân ái hơn. Việc làm yêu thương có sức lan tỏa. Khi chúng ta kiên trì gieo mầm yêu thương mỗi ngày, hoa trái yêu thương sẽ nảy nở trong xã hội này. Hãy gieo thật nhiều hạt mầm nhân ái, quảng đại và thứ tha, xã hội sẽ bớt đi những cái ác. Hãy gieo nhiều hạt mầm yêu thương, công bằng và lương thiện, môi trường sống của xã hội này sẽ trở nên đáng sống hơn.
Xin Chúa Giêsu Phục sinh, biến đổi chúng ta nên con người mới để chúng ta có thể thực hành được giới răn mới của Chúa. Amen.

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc 

CHÚA NHẬT IV PS C :

Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016
MỤC TỬ XÓT THƯƠNG
 Nhiều người ngày nay tuy ngại sinh con, nuôi con, nhưng thay vì chăm sóc con, người ta chăm sóc cho thú cưng. Họ chăm sóc những vật nuôi, thú cưng như để cân bằng tâm lý, hoặc có những con vật được yêu thích vì nó đẹp, khôn hoặc nó trung thành với chủ. Ngày xưa theo văn hóa Do Thái, người mục tử chăn chiên, họ yêu mến chiên như yêu chính đứa con của mình. Con chiên không chỉ là vật nuôi gắn liền với cuộc sống du mục, mà nó còn là tài sản, là bạn, là thành viên trong các gia đình, được yêu mến và chăm sóc như cha mẹ chăm sóc cho con. Con chiên là giống vật hiền lành, mến chủ, nó cũng là con vật dễ bị tấn công và bị tổn thương, vì thế người chăn chiên luôn là người bảo vệ chiên của mình.
Một vài nét về văn hóa Do Thái như thế để chúng ta có thể dễ hiểu ý nghĩa của ngày lễ hôm nay, Thiên Chúa được so sánh là Mục Tử Xót Thương. Mục tử là hình ảnh rất gần gũi đối với người Do Thái. Tuy nhiên, khi so sánh : Ta là mục tử tốt lành, Chúa Giêsu muốn cho thấy Ngài thực sự là người dẫn dắt đoàn chiên và Ngài trổi vượt hơn hẳn các người chăn chiên khác.
Ngay từ xa xưa, các tiên tri, đặc biệt là Isaia, đã dùng hình ảnh mục tử và đàn chiên để nói về tương quan giữa Thiên Chúa và Israel. Israel là đàn chiên và Thiên Chúa là mục tử của họ. Thiên Chúa đã tuyển chọn Israel từ giữa muôn dân, Ngài quy tụ họ thành một dân, được thánh hiến dành riêng cho Thiên Chúa. Thiên Chúa như người mục tử vô cùng vất vả vì đàn chiên là Israel : Khi Isrel tản lạc bởi chiến tranh, Thiên Chúa đã quy tụ họ về, khi họ bị đau khổ đàn áp bởi cuộc sống làm nô lệ, Thiên Chúa đã ra tay giải thoát họ. Khi họ sai đường lạc lối, Thiên Chúa đã uốn năn dạy dỗ và chỉ cho họ cách sống đẹp lòng Chúa. Trong hành trình sa mạc, Thiên Chúa như người mục tử lo từng miếng ăn giấc ngủ, nguồn nước cho Israel để nuôi sống họ. Khi họ xa đàn, lạc lối, Thiên Chúa sửa dạy, nhưng rồi lại xót thương tha thứ.
Đến thời đã định, Thiên Chúa đã cho Con của Ngài là Chúa Giêsu đến để cùng sống với đàn chiên là Israel. Chúa Giêsu đã thể hiện vai trò là một mục tử hết lòng xót thương chăm sóc cho đoàn chiên và sẵn sàng hiến thân để bảo vệ đoàn chiên của Chúa. Chúa Giêsu đã mang trong mình một trái tim chạnh thương : Ngài chạnh lòng khi thấy đám đông dân chúng đói khổ bơ vơ như những con chiên không có người chăn ; Ngài đã quên ăn quên nghỉ để tiếp tục giảng dạy cho họ, chỉ cho họ biết phải sống sao cho xứng đáng ; Ngài làm phép lạ hóa bánh để nuôi sống họ vì sợ họ đói lả dọc đường.
Chúa Giêsu cho thấy, những thượng tế, là những người thiếu trách nhiệm chăm lo đời sống đức tin cho dân Chúa. Chúa Giêsu là một mục tử có lương tâm và trách nhiệm với đoàn chiên mà Thiên Chúa Cha đã trao cho Người. Ngài nghiêm khắc không chấp nhận tội lỗi, nhưng lại hết sức nhân từ yêu thương, thông cảm và tha thứ cho tội nhân. Ngài sẵn sàng cúi xuống để phục vụ, để nâng những con người yếu đuối hèn kém lên. Ngài đem đến cho chiên của Ngài sự an ủi vổ về, cũng như hướng dẫn họ sống theo đúng giời răn lề luật của Thiên Chúa. Ngài thương yêu đoàn chiên của Ngài đến nỗi hiến trao chính con người và mạng sống cho nhân loại.
Trước cuộc thương khó, Vị Mục tử Giêsu đã hiến ban thịt máu mình làm của ăn, của uống nuôi dưỡng đoàn chiên. Trong cuộc khổ hình thập giá, Ngài đã hiến ban đến giọt máu và nước cuối cùng để cứu thoát con người khỏi tay ma quỷ và thần chết. Ngài đã trải qua một cuộc chiến cam go với sự chết và đã chiến thắng bằng cuộc phục sinh vinh quang, đã đem lại sự sống đời đời cho đoàn chiên. Trong đoạn tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn quả quyết : Không bao giờ Ngài để cho chiên của Ngài phải bị diệt vong và không một sức mạnh nào có thể cướp được chúng khỏi tay Ngài , khỏi tình yêu thương của Ngài.
Chúa Giêsu đã chấp nhận hy sinh cả mạng sống để giành lấy đoàn chiên khỏi tay mà quỷ và sự chết. Bởi vì đoàn chiên nhân loại này, là “tài sản, là gia nghiệp” của Thiên Chúa và còn là quà tặng mà Thiên Chúa Cha đã ban cho Ngài. Vì thế, bằng mọi cách, Chúa Giêsu đã yêu thương và bảo vệ đoàn chiên khỏi mọi sự tấn công của ma quỷ và thế gian : Không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Chúa Giêsu còn khẳng đình : Tôi và Chúa Cha là một. Điều này không chỉ là mạc khải về bản tính Thiên Chúa nơi Ngài, mà còn cho thấy sức mạnh vô song của Thiên Chúa đã dùng để bảo vệ đoàn chiên nhân loại của Ngài.
Không chỉ nói về vai trò và tình yêu thương của mục tử, Chúa Giêsu cũng nói đến trách nhiệm và bổn phận của mỗi con chiên : Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi. Như vậy, để xứng đáng trở thành con chiên của Chúa, chúng ta phải nghe được tiếng nói của vị Mục Tử Giêsu. Chúng ta chỉ thực sự là chiên của Chúa Giêsu khi chúng ta nghe được tiếng của Ngài. Nghe không chỉ là đón nhận âm thanh, mà là đón nhận lời dạy và giáo huấn của Ngài, là bước đi theo sự dẫn dắt của Ngài. Chỉ khi bước theo sự dẫn dắt của Mục Tử Giêsu, chúng ta mới không bị lạc đường, không gặp nguy hiểm và mới có thể bước vào đồng cỏ Nước Trời.
Tiêu chuẩn để làm chiên của Chúa Giêsu : Tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tức là phải để cho Chúa biết mình và mình biết Chúa. Để Chúa biết mình là để Ngài thấu tỏ tâm hồn, cuộc sống và mọi hành động của mình. Nói cách khác, tức là sống, làm việc và hành động đưới cái nhìn của Chúa, trong sự hiện diện của Chúa. Chúa nhìn thấu tâm hồn, ý nghĩ và hành động mỗi người, không có gì có thể che được mắt Ngài. Vì thế, muốn làm chiên của Chúa, cần phải sống và cư xử với nhau một các ngay thẳng, không gian dối, đúng với tư cách là con của Chúa, là những người đã được Chúa cứu chuộc. Đồng thời, chính mình cũng phải biết Chúa, tức là biết Chúa là ai, Chúa muốn tôi làm gì, Chúa có vị trí nào trong đời tôi và tôi có vị trí nào trong bàn tay Chúa?
Sau cùng, để thực sự là chiên của Chúa thì phải bước theo Chúa. Chiên phải bước theo người chăn, học trò phải theo thầy, con cái phải theo lời chỉ dạy của cha mẹ. Mục tử Giêsu cũng muốn chúng ta có thái độ như thế. Bước theo Chúa là bước đi trong sự bảo vệ, theo sự dẫn dắt của Chúa, và bước đi cùng với các anh chị em khác. Bước theo Chúa là theo sát con đường Chúa đi, là con đường yêu thương phục vụ, dám hy sinh, cho dù phải đánh đổi mạng sống, không thể rẽ ngang, cũng đừng tách đàn, đừng nấn ná cũng đừng la cà. Theo Chúa còn là tuân theo lời chỉ dạy của Chúa, qua việc sống các mối phúc của Tin Mừng, là dám sống yêu thương đến tận cùng và dám bước vào con đường thập giá với Chúa vì yêu thương anh em.
Các tông đồ là những con chiên đầu tiên của Chúa đã sống những tiêu chuẩn của Mục Tử Giêsu. Một khi các ông đã đón nhận được đức tin vào Chúa Giêsu Phục Sinh, được cùng sống với Ngài, học nơi Ngài, biết về Ngài, giờ đây các ông trở thành những người nói về Mục Tử Giêsu cho mọi người. Chúa Giêsu không mãi hiện diện bằng thể xác với đoàn chiên nhân loại của Ngài, ngài đã muốn có nhiều các cộng tác viên để tiếp tục chăm sóc bảo vệ đoàn chiên nhân loại. Các tông đồ đã ý thức và đã lãnh nhận sứ mạng này từ nơi Chúa Giêsu, để đến lượt các ông, theo gương mục tử Giêsu, các ông hết mình chăm lo cho đoàn chiên của Chúa.
Với ơn của Bí Tích rừa tội, chúng ta vừa là chiên của Mục tử Giêsu đồng thời cũng được tham dự vào vai trò là mục tử của Chúa Giêsu. Là chiên của Chúa, xin cho chúng ta luôn nhận ra tình yêu thương của Mục tử Giêsu đế ta sống gắn bó với Ngài, tin tưởng vào Ngài dù khi vui hay khi gặp thử thách. Xin cho chúng ta luôn để tâm lắng nghe và làm theo tiếng Chúa nói với mình. Chúa nói với mỗi người qua Lời của Chúa và qua việc cử hành phụng vụ mỗi ngày. Xin cho chúng ta biết chăm chỉ học hỏi để biết Chúa nhiều hơn và cũng dám mở lòng, sống khiêm tốn để cho Chúa biết cuộc sống và con người chúng ta. Chúa biết chúng ta yếu đuối cần đến lòng thương xót của Ngài. Xin Cho chúng ta luôn để cho Chúa yêu thương và trung thành theo Chúa dù có phải trải qua những lúc đen tối và thử thách nhất. Amen

CHÚA NHẬT III PS :

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016
GIÁO HỘI LÀ QUÀ TẶNG VÀ LÀ TRUNG GIAN LÒNG THƯƠNG XÓT
Vào ngày lễ Thánh Giuse vừa qua, Đức Thánh Cha Francis kỷ niệm ba năm nhận lãnh sứ vụ chăm sóc Giáo Hội trên ngai tòa của Simon Phêrô. Cũng dịp này, báo chí đánh giá rằng, ba năm qua, Đức Thánh Cha đã làm được nhiều việc cho Giáo Hội. Ngài thúc đẩy mọi thành phần của Giáo Hội phải đi ra đến với những vùng ven, với những người nghèo. Ngài dẫn dắt Giáo Hội bằng trực giác của con tim, vì thế, đời sống và hoạt động của Ngài đã chạm đến được trái tim của nhiều người. Báo chí cũng nhận định rằng, tình yêu thương của Đức Thánh Cha dành cho người nghèo, người đau khổ bệnh tật và các trẻ em là một tình yêu hết sức tự nhiên, phát xuất từ một tâm hồn cảm thông. Đặc biệt ngay từ đầu triều đại Giáo Hoàng, Ngài đã cho thế giới thấy rằng, Giáo Hội không phải là thành trì, cũng không phải là một tiểu thư đài các, nhưng Giáo Hội dám chấp nhận sự lấm lem vì bước đến với những người bị bỏ rơi. Qua đó, Đức Thánh Cha cũng cho thấy, Giáo Hội thực sự là quà tặng của lòng thương xót của Chúa và đồng thời là trung gian của lòng thương xót Chúa cho thế giới.
Chúa Giêsu Phục sinh đã hết lòng tin tưởng Simon Phêrô, đã trao cho ông và các tông đồ nhiệm vụ yêu thương, chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Câu chuyện Thánh Gioan kể hôm nay mang những ý nghĩa đặc biệt. Các tông đồ đã lấy lại được bình an sau lần gặp Chúa Phục sinh. Hình ảnh các ông sống với nhau và làm việc cùng với Simon cho thấy một Giáo Hội gắn bó mật thiết với Simon là thủ lãnh. Simon cũng là người khởi xướng mọi hoạt động của Giáo Hội. Ông nói với anh em : Tôi đi đánh cá đây. Các tông đồ khác đã đồng thanh đáp lại : Chúng tôi cùng đi với anh. Chi tiết này cho thấy sự hiệp nhất đồng tâm của Giáo Hội, đặc biệt là các tông đồ quanh thủ lãnh Phêrô. Việc khởi xướng của Simon : Tôi đi đánh cá, không chỉ là đi ra Biển Hồ, nhưng còn là mệnh lệnh của vị thủ lãnh, mời gọi mọi thành viên của Giáo Hội lên đường ra khơi loan báo Tin Mừng và tình yêu thương của Chúa, đem các linh hồn về cho Chúa.
Tuy nhiên, với cố gắng riêng mình, cả đêm các ông không bắt được gì, đến độ không còn gì để ăn. Lúc đó, Chúa Giêsu Phục sinh đã đứng trên bãi biển mà các ông không nhận ra. Ngài truyền cho các tông đồ : Cứ thả lưới bên phải mạn thuyền thì sẽ bắt được cá. Các ông đã thả lưới và bắt được một mẻ cá thật lớn. Điều đó cho thấy rằng, dù không nhìn thấy Chúa, nhưng nếu các ông cứ vâng theo Lời Chúa, các ông sẽ đạt được kết quả vượt sức mong đợi của các ông. Người môn đệ được thương mến đã nhờ trực giác tình yêu nhận ra Chúa Phục sinh và nói cho Simon : Chúa đó. Chúa vẫn hiện diện, theo dõi và trợ giúp mọi hoạt động của các tông đồ, nhưng chỉ với tâm hồn của những người biết mình được yêu, thì mới nhận ra Chúa mà thôi.
Tin Mừng kể tiếp : Bước lên bờ, các ông thấy đã có sẵn than hồng và cá đang nướng ở trên và có cả bánh nữa. Điều đó cho thấy, Chúa Phục sinh hằng lo lắng cho Giáo Hội và các môn đệ của Ngài. Không phải các ông dọn bữa cho Chúa, nhưng sau một đêm vất vả, vật lộn với công việc, thì chính Chúa sẽ chuẩn bị bữa ăn cho các ông. Ngài không bao giờ để cho Giáo Hội của Ngài phải thiếu thốn khi họ làm việc cho Chúa. Sau đó, Chúa nói các ông đem cá mới lên. Chính Simon lên thuyền đưa lưới vào bờ. Lưới đầy cá lớn mà không hề rách. Giáo Hội của Chúa như chiếc lưới mở ra để thâu nhận tất cả mọi người, mọi dân tộc vào Giáo Hội. Giáo Hội luôn có dư, đủ chỗ cho hết mọi người. Chiếc lưới là Giáo Hội dù có đầy đến mấy cũng không hề rách. Đức Giêsu lại bước đến, cầm bánh trao cho các ông. Cử chỉ này chính là cử chỉ thân quen Chúa Giêsu đã làm trong bữa tiệc ly khi Ngài lập Bí tích Thánh Thể. Khi lặp lại cử chỉ này, Tin Mừng cho thấy, Giáo Hội được thiết lập, được nuôi dưỡng bằng lòng thương xót và bằng chính Thánh Thể của Chúa Giêsu.
Sau khi ăn xong, Chúa Giêsu đã đặt vấn đề với Simon Phêrô : Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ? Thật hết sức bất ngờ, khi Chúa Giêsu không đặt một điều kiện nào với Simon, Ngài cũng không hề nhắc lại quá khứ của ông. Ngài muốn mời ông bước thêm một bước dài hơn, cao hơn trong hành trình theo Chúa, mà điều kiện duy nhất là lòng yêu mến. Simon đã trả lời : Thưa thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. Chỉ khi có lòng yêu mến thực sự, thì người ta mới có thể đem lòng yêu mến đến cho người khác. Chúa trả lời Simon : Anh hãy chăm sóc các chiên con của Thầy. Như thế, sứ mạng của Phêrô là nhân danh Chúa Giêsu, thay mặt Chúa Giêsu để chăm sóc đoàn chiên của Chúa Giêsu, tiếp tục nối dài lòng thương xót của Chúa cho đoàn chiên.
Chúa lại hỏi Simon lần thứ hai và đến lần thứ ba : Con có yêu mến Thầy không ? Lần thứ ba được hỏi, Phêrô có vẻ buồn. Ông buồn không phải vì nghĩ rằng Thầy không tin ông, cũng không vì quá khứ của ông, nhưng vì ông nhìn thấy một sứ mạng hết sức lớn lao mà con người của ông thật giới hạn, yếu đuối. Vì vậy, ông đã hết sức khiêm tốn, không mạnh dạn như hai lần trước, ông thưa : Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy. Với câu trả lời này, Phêrô đã trải lòng mình ra trước mặt Chúa, mở cả tâm hồn để cho Chúa thấy một Simon yêu Chúa thật nhiều, nhưng cũng gây đau khổ cho Chúa thật nhiều, nhiệt thành nhưng cũng lại hay vấp váp. Ông tin rằng Chúa biết, Chúa thấu tỏ con người ông, Chúa biết ông cần lòng xót thương và sự nâng đỡ của Chúa.
Trước thái độ chân thành, khiêm tốn của Simon, Chúa đã đổ tràn tình yêu xuống tâm hồn ông và trao cho ông quyền : Con hãy chăm sóc các chiên của Thầy. Chúa muốn ông thay Chúa, nhân danh Chúa để yêu thương, chăm sóc cho hết mọi người. Chúa muốn mượn con người, đôi tay của ông để có thể tiếp tục đụng chạm, yêu thương, vỗ về những con chiên của Chúa. Như vậy, sứ mạng của Phêrô và của Giáo Hội rõ ràng là sứ mạnh yêu thương, là chuyển tải lòng thương xót của Chúa đến cho thế giới.
Chúa Giêsu cũng nói cho Phêrô biết về tương lai của ông. Chúa muốn Simon theo Chúa đến cùng, không chỉ khi còn trẻ mà cả khi về già, không chỉ khi còn sức lực, nhưng cả khi tóc bạc da mồi vẫn phải trung thành theo Chúa. Ông cũng phải giang tay ra như Chúa để có thể ôm hết mọi người vào lòng để yêu thương, để phục vụ.
Trước một tương lai và sứ mạng quá lớn lao, có lẽ đã làm Phêrô có phần lo sợ. Chúa Giêsu đã mời gọi ông : Hãy theo Thầy. Lời mời gọi lần này chắc chắn khác với lời mời gọi ngày xưa ở bờ hồ Tiberia. Lúc đó, các ông trẻ trung, theo Chúa, các ông mong đợi và nuôi trong mình bao nhiêu dự định theo kiểu trần gian. Lần này, trước sứ mạng thật lớn lao, ông sẽ phải giang rộng tay để yêu thương, để trao ban, chứ không còn tìm kiếm cho mình nữa. Lời mời gọi lần này đòi Phêrô phải đáp trả một cách quyết liệt và vĩnh viễn không đổi thay. Ông sẽ phải tiếp nối sứ mạng của Thầy là yêu thương không thể trì hoãn, xót thương không còn giới hạn, là bước vào con đường thập giá với Thầy.
Suy niệm Tin Mừng hôm nay, chúng ta tạ ơn Chúa vì Chúa đã thiết lập Giáo Hội, cho chúng ta được làm con, làm thành viên của Giáo Hội. Thiên Chúa đã không muốn để công trình yêu thương cứu chuộc của Chúa bị dừng lại, Ngài đã thiết lập nên Giáo Hội và muốn Giáo Hội trở thành quà tặng lòng thương xót của Chúa. Lòng thương xót Chúa được trao ban cho nhân loại như mưa trời tuôn đổ, nhưng Chúa muốn Giáo Hội trở thành dòng chảy đem lòng thương xót Chúa cho thế giới.
Là con của Giáo Hội, chúng ta được đón nhận lòng thương xót của Chúa qua sự chăm sóc của mẹ Giáo Hội, được sự dẫn dắt của Giáo Hội như người Thầy. Qua quyền cử hành Bí tích, Giáo Hội tiếp tục yêu thương và chuyển tải ân sủng của Chúa cho các con mình. Đặc biệt qua Bí tích Giải tội, Thiên Chúa đã muốn dùng Giáo Hội để nói lời yêu thương tha thứ, chỉ bảo và chữa lành tâm hồn các tín hữu, ban lòng thương xót Chúa cho con cái mình.
Là thành viên của Giáo Hội, chúng ta cùng mang sứ mạng của Giáo Hội, là sứ mạng yêu thương và phục vụ, chuyển tải lòng thương xót của Chúa đến cho người chung quanh. Bắt đầu từ gia đình, chúng ta biến gia đình thành cộng đoàn của lòng thương xót Chúa qua sự yêu thương, phục vụ, cảm thông. Chúng ta còn phải thông chuyển lòng Chúa xót thương đến những người chung quanh, những người dù tin Chúa hay chưa tin, những người đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, bị bỏ rơi, bị ức hiếp. Chúng ta phải bước đến với họ, đưa tay ra để nâng họ dậy, an ủi, xoa dịu đau khổ của họ, để qua việc tiếp xúc với mỗi thành viên của Giáo Hội, họ có thể đụng chạm và gặp được gương mặt xót thương của Chúa. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc
.

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH C :

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI
Người ta thấy rằng, nhà tù chỉ có thể lấy đi tự do của một tội phạm, nhưng chưa chắc có thể giáo dục và thay đổi được cuộc đời con người. Trong nền giáo dục hiện đại, người ta cũng thấy rằng, hình phạt có thể ngăn chặn một số hành vi sai lỗi, nhưng chỉ có tình thương mới có thể cảm hóa và biến đổi được trái tim con người. Lịch sử cho thấy, Thiên Chúa đã dùng sư phạm của tình yêu để giáo dục và giúp con người biến đổi. 
Chúa nhật thứ hai Phục sinh được Đức Thánh Giáo Hoàng JP II chọn là Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, vì các bài đọc trong thánh lễ đã để lại vô số dấu chỉ tình thương của Chúa Phục Sinh dành cho các tông đồ và cho chúng ta. Tin Mừng Gioan thuật lại hai cuộc hiện ra của Chúa Phục Sinh. Cả hai cuộc hiện ra này, Chúa Phục Sinh đã thể hiện tình thương đặc biệt của Ngài đối với các tông đồ.
Lần thứ nhật xảy ra vào buổi chiều ngày phục sinh. Lúc đó, các môn đệ của Chúa sống hoàn cảnh hết sức tội nghiệp, đáng thương. Họ như rắn mất đầu, rơi vào tình trạng mất phương hướng và lo sợ, sống khép kín trong ngôi nhà đóng cửa cài then, không giao du, không tiếp xúc với ai. Tình trạng sống buồn bã ấy không khác gì một cuộc sống tuy còn thở nhưng tâm hồn đã chết vì suy sụp sau cuộc tử nạn của Thầy. Chúa Phục Sinh biết hoàn cảnh của các học trò mình. Vì thế, ngay chiều ngày thứ nhất, Ngài đã hiện ra, đứng giữa các ông. Sự hiện diện này như sự hiện diện của một người cha trước mặt con cái, sự hiện diện có sức an ủi và gia tăng niềm vui, nghị lực sống cho các tông đồ.
Món qùa đầu tiên Chúa Phục Sinh trao tặng cho các tông đồ là lời : Bình an cho các con. Đây không phải là một lời cầu chúc như chúng ta vẫn chúc nhau, nhưng đây thực sự là một tình trạng, một ơn được ban cho các tông đồ để biến đổi tâm hồn và cuộc đời các ông. Chúa Giêsu không hề khiển trách các ông về sự nhát đảm, bỏ trốn hoặc chối Chúa trong cuộc khổ nạn. Ngài đã quên hết mọi đau khổ các ông đã gây ra cho Ngài. Lòng thương xót của Chúa khiến Chúa Phục Sinh không kìm hãm được tình yêu. Ngài cho các tông đồ xem tay và cạnh sườn Người, Người muốn cho các ông tận mắt được nhìn thấy dấu vết yêu thương để có thể cảm nhận được tình yêu tột cùng của Ngài.
Món quà tiếp theo là món quà sự sống mới của Chúa Phục Sinh, đó là món quà Thánh Thần, được trao cho các tông đồ. Ngài thổi hơi và phán : Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Nếu như ngày xưa Thiên Chúa đã thổi hơi vào nắm đất để ban cho Adam sự sống, thì hôm nay, Chúa Phục Sinh đã thổi một hơi thở mới là Thánh Thần vào tâm hồn các tông đồ. Hơi thở này là một cuộc tạo dựng mới, làm nên một thế giới mới, con người mới, sức sống mới cho nhân loại và cho vũ trụ. Từ đây, con người và vũ trụ không còn sống con người cũ nữa, nhưng sống với trái tim mới, với con người mới, con người mang sức sống Phục Sinh.
Kế đến, Chúa Phục Sinh đã thể hiện lòng thương xót, thông cảm đối với những giới hạn, yếu đuối của con người, vì thế, Ngài đã trao cho các tông đồ quyền nhân danh Ngài để tha thứ : Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm giữ. Tha thứ là thể hiện sâu xa nhất lòng xót thương của Thiên Chúa là Cha. Đức Thánh Cha Fancis đã khẳng định : Tội lỗi không thể ngăn cản được lòng thương xót của Thiên Chúa và Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi để tha thứ cho con người.
Trao ban cho các tông đồ quyền tha thứ, Chúa Phục Sinh muốn các ông trở thành “hiện thân” của Chúa, thành cộng tác viên, người nối dài lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa cho đến tận thế. Qua các tông đồ, cái chết và sự phục sinh Chúa không dừng lại, nhưng được tiếp tục trao ban cho nhân loại bằng ơn tha thứ và chữa lành của Thiên Chúa. Như thế, tha thứ là hoa quả lớn lao nhất của cuộc phục sinh mà Chúa Giêsu để lại cho Giáo Hội.
Lần hiện ra thứ hai của Chúa Phục Sinh mang tính cụ thể hơn nữa. Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ là một tình thương chung chung, nhưng là một tình thương đụng chạm đến từng cá nhân mỗi người. Cuộc hiện ra tám ngày sau, có thể nói là cuộc hiện ra dành riêng cho Tôma, một người muốn kiểm chứng cuộc phục sinh của Chúa bằng kinh nghiệm cá nhân : Nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin.  Chúa Phục Sinh như muốn đáp ứng sự khao khát tìm kiếm dấu chỉ đức tin của Tôma. Vì thế, khi hiện ra, Chúa Phục Sinh đã gọi đích danh ông, cho ông có một cơ hội tiếp xúc, đụng chạm đến Đấng Phục Sinh. Ngài nói với ông : Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay con ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.
Chúa Phục Sinh đã hết sức yêu thương và kiên nhẫn với học trò của mình. Chúa biết rằng, việc đón nhận mầu nhiệm Phục sinh không phải là điều dễ dàng. Chúa đã cho Tôma được xỏ bàn tay vào cạnh sườn của Chúa để có ông có thể đụng chạm đến trái tim thương tích của Ngài. Chạm vào vết thương của Chúa không phải là chạm vào vết đau mà Tôma được chạm vào tình thương của Chúa Phục Sinh. Một khi chạm vào tình yêu, con người được biến đổi. Khi chạm vào lòng thương xót của Chúa, giống như chạm vào một nguồn suối, từ đó mạch nguồn yêu thương của Chúa tuôn trào trên Tôma. Tôma đã đón nhận lời chứng của các tông đồ trong sự hồ nghi, thì giờ đây, với lòng thương xót của Chúa, niềm tin của ông đã đi đến một xác tín cá nhân : Lạy Chúa tôi ! Lậy Thiên Chúa của tôi.
Tin Mừng Gioan còn ghi lại lời chúc phúc của Chúa Giêsu dành cho chúng ta là thế hệ các tín hữu sau các tông đồ : Phúc cho những ai không thấy mà tin. Chúng ta vẫn đang tiếp tục được đón nhận lòng thương xót và đức tin qua các tông đồ và Giáo Hội. Chỉ khi chúng ta thực sự sống trong sự hiệp thông với các tông đồ, sống trong sự bao bọc của Giáo Hội, chúng ta mới có thể đón nhận được đức tin Chúa phục sinh và có thể dễ dàng đón nhận lòng Chúa thương xót qua Giáo Hội. 
Tôma trước đây chưa thể đón nhận được mầu nhiệm Phục sinh, bởi vì ông đã tách lìa khỏi cộng đoàn các tông đồ. Vì một lý do nào đó, khi anh em vẫn tụ tập bên nhau chung quanh Simon, thì Tôma đã không hiện diện. Vì thế, khi anh em nói về việc họ đã được gặp Chúa Phục Sinh, được Chúa trao bình an và quyền thực thi lòng thương xót tha thứ, Tôma đã không thể tin. Chỉ sau khi ông quay trở về với anh em, cùng hiệp thông trọn vẹn với Simon và các tông đồ, ông mới có thể đón nhận được mầu nhiệm Phục sinh. Chỉ khi sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội, Tôma mới có thể cảm nhận được lòng thương xót của Chúa, được đụng chạm đến vết yêu thương của Ngài và đi đến xác tín vào Ngài.
Hôm nay cử hành lòng Chúa thương xót, chúng ta cùng cảm nhận và tuyên xưng rằng, mỗi chúng ta đang được Chúa xót thương. Chúa xót thương và chăm sóc cho mỗi người theo từng hoàn cảnh của họ và cho mỗi người được đụng chạm đến tình thương của Chúa. Tuy nhiên, có thể vì chúng ta đã không gắn bó đủ với Giáo Hội, vì đã đánh mất tình hiệp thông với anh em, nên chúng ta chưa nhận ra lòng xót thương của Thiên Chúa. Qua các biến cố xảy ra cho mỗi người, mỗi gia đình, Chúa cũng cho chúng ta được đặt ngón tay vào lỗ đinh, xỏ bàn tay vào cạnh sườn của Chúa, nhưng chúng ta vẫn nghi ngờ sự hiện diện sống động của Chúa trong cuộc đời của mình.
Qua ơn tha thứ Chúa trao cho Giáo Hội, Chúa thể hiện lòng xót thương, sự kiên nhẫn chờ đợi của Ngài. Ngài luôn cho chúng ta có cơ hội để chúng ta quay về với lòng thương xót tha thứ của Chúa. Đừng bao giờ hồ nghi về sự tha thứ của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Cha chúng ta. Đừng bao giờ giới hạn lòng thương xót qủang đại của Thiên Chúa, vì lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô bờ, không bao giờ bị giới hạn và không bao giờ cạn nguồn. Bí tích Giải tội là nơi Thiên Chúa mượn thánh vụ và môi miệng của các thừa tác viên của Giáo Hội để nói lời yêu thương, thông cảm, tha thứ của Chúa. Vì thế, đừng bao giờ ngại ngùng hoặc từ chối đến với Bí Tích Xót Thương này.
Xin Chúa cho chúng ta luôn khiêm tốn mở trái tim để đón nhận lòng Chúa xót thương và biến chúng ta thành thừa tác viên lòng thương xót của Chúa cho anh chị em chung quanh. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA BIẾN ĐỔI CON NGƯỜI
Người ta thấy rằng, nhà tù chỉ có thể lấy đi tự do của một tội phạm, nhưng chưa chắc có thể giáo dục và thay đổi được cuộc đời con người. Trong nền giáo dục hiện đại, người ta cũng thấy rằng, hình phạt có thể ngăn chặn một số hành vi sai lỗi, nhưng chỉ có tình thương mới có thể cảm hóa và biến đổi được trái tim con người. Lịch sử cho thấy, Thiên Chúa đã dùng sư phạm của tình yêu để giáo dục và giúp con người biến đổi. 
Chúa nhật thứ hai Phục sinh được Đức Thánh Giáo Hoàng JP II chọn là Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, vì các bài đọc trong thánh lễ đã để lại vô số dấu chỉ tình thương của Chúa Phục Sinh dành cho các tông đồ và cho chúng ta. Tin Mừng Gioan thuật lại hai cuộc hiện ra của Chúa Phục Sinh. Cả hai cuộc hiện ra này, Chúa Phục Sinh đã thể hiện tình thương đặc biệt của Ngài đối với các tông đồ.
Lần thứ nhật xảy ra vào buổi chiều ngày phục sinh. Lúc đó, các môn đệ của Chúa sống hoàn cảnh hết sức tội nghiệp, đáng thương. Họ như rắn mất đầu, rơi vào tình trạng mất phương hướng và lo sợ, sống khép kín trong ngôi nhà đóng cửa cài then, không giao du, không tiếp xúc với ai. Tình trạng sống buồn bã ấy không khác gì một cuộc sống tuy còn thở nhưng tâm hồn đã chết vì suy sụp sau cuộc tử nạn của Thầy. Chúa Phục Sinh biết hoàn cảnh của các học trò mình. Vì thế, ngay chiều ngày thứ nhất, Ngài đã hiện ra, đứng giữa các ông. Sự hiện diện này như sự hiện diện của một người cha trước mặt con cái, sự hiện diện có sức an ủi và gia tăng niềm vui, nghị lực sống cho các tông đồ.
Món qùa đầu tiên Chúa Phục Sinh trao tặng cho các tông đồ là lời : Bình an cho các con. Đây không phải là một lời cầu chúc như chúng ta vẫn chúc nhau, nhưng đây thực sự là một tình trạng, một ơn được ban cho các tông đồ để biến đổi tâm hồn và cuộc đời các ông. Chúa Giêsu không hề khiển trách các ông về sự nhát đảm, bỏ trốn hoặc chối Chúa trong cuộc khổ nạn. Ngài đã quên hết mọi đau khổ các ông đã gây ra cho Ngài. Lòng thương xót của Chúa khiến Chúa Phục Sinh không kìm hãm được tình yêu. Ngài cho các tông đồ xem tay và cạnh sườn Người, Người muốn cho các ông tận mắt được nhìn thấy dấu vết yêu thương để có thể cảm nhận được tình yêu tột cùng của Ngài.
Món quà tiếp theo là món quà sự sống mới của Chúa Phục Sinh, đó là món quà Thánh Thần, được trao cho các tông đồ. Ngài thổi hơi và phán : Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Nếu như ngày xưa Thiên Chúa đã thổi hơi vào nắm đất để ban cho Adam sự sống, thì hôm nay, Chúa Phục Sinh đã thổi một hơi thở mới là Thánh Thần vào tâm hồn các tông đồ. Hơi thở này là một cuộc tạo dựng mới, làm nên một thế giới mới, con người mới, sức sống mới cho nhân loại và cho vũ trụ. Từ đây, con người và vũ trụ không còn sống con người cũ nữa, nhưng sống với trái tim mới, với con người mới, con người mang sức sống Phục Sinh.
Kế đến, Chúa Phục Sinh đã thể hiện lòng thương xót, thông cảm đối với những giới hạn, yếu đuối của con người, vì thế, Ngài đã trao cho các tông đồ quyền nhân danh Ngài để tha thứ : Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm giữ. Tha thứ là thể hiện sâu xa nhất lòng xót thương của Thiên Chúa là Cha. Đức Thánh Cha Fancis đã khẳng định : Tội lỗi không thể ngăn cản được lòng thương xót của Thiên Chúa và Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi để tha thứ cho con người.
Trao ban cho các tông đồ quyền tha thứ, Chúa Phục Sinh muốn các ông trở thành “hiện thân” của Chúa, thành cộng tác viên, người nối dài lòng thương xót và tha thứ của Thiên Chúa cho đến tận thế. Qua các tông đồ, cái chết và sự phục sinh Chúa không dừng lại, nhưng được tiếp tục trao ban cho nhân loại bằng ơn tha thứ và chữa lành của Thiên Chúa. Như thế, tha thứ là hoa quả lớn lao nhất của cuộc phục sinh mà Chúa Giêsu để lại cho Giáo Hội.
Lần hiện ra thứ hai của Chúa Phục Sinh mang tính cụ thể hơn nữa. Lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ là một tình thương chung chung, nhưng là một tình thương đụng chạm đến từng cá nhân mỗi người. Cuộc hiện ra tám ngày sau, có thể nói là cuộc hiện ra dành riêng cho Tôma, một người muốn kiểm chứng cuộc phục sinh của Chúa bằng kinh nghiệm cá nhân : Nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin.  Chúa Phục Sinh như muốn đáp ứng sự khao khát tìm kiếm dấu chỉ đức tin của Tôma. Vì thế, khi hiện ra, Chúa Phục Sinh đã gọi đích danh ông, cho ông có một cơ hội tiếp xúc, đụng chạm đến Đấng Phục Sinh. Ngài nói với ông : Hãy đặt ngón tay con vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa bàn tay con ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.
Chúa Phục Sinh đã hết sức yêu thương và kiên nhẫn với học trò của mình. Chúa biết rằng, việc đón nhận mầu nhiệm Phục sinh không phải là điều dễ dàng. Chúa đã cho Tôma được xỏ bàn tay vào cạnh sườn của Chúa để có ông có thể đụng chạm đến trái tim thương tích của Ngài. Chạm vào vết thương của Chúa không phải là chạm vào vết đau mà Tôma được chạm vào tình thương của Chúa Phục Sinh. Một khi chạm vào tình yêu, con người được biến đổi. Khi chạm vào lòng thương xót của Chúa, giống như chạm vào một nguồn suối, từ đó mạch nguồn yêu thương của Chúa tuôn trào trên Tôma. Tôma đã đón nhận lời chứng của các tông đồ trong sự hồ nghi, thì giờ đây, với lòng thương xót của Chúa, niềm tin của ông đã đi đến một xác tín cá nhân : Lạy Chúa tôi ! Lậy Thiên Chúa của tôi.
Tin Mừng Gioan còn ghi lại lời chúc phúc của Chúa Giêsu dành cho chúng ta là thế hệ các tín hữu sau các tông đồ : Phúc cho những ai không thấy mà tin. Chúng ta vẫn đang tiếp tục được đón nhận lòng thương xót và đức tin qua các tông đồ và Giáo Hội. Chỉ khi chúng ta thực sự sống trong sự hiệp thông với các tông đồ, sống trong sự bao bọc của Giáo Hội, chúng ta mới có thể đón nhận được đức tin Chúa phục sinh và có thể dễ dàng đón nhận lòng Chúa thương xót qua Giáo Hội. 
Tôma trước đây chưa thể đón nhận được mầu nhiệm Phục sinh, bởi vì ông đã tách lìa khỏi cộng đoàn các tông đồ. Vì một lý do nào đó, khi anh em vẫn tụ tập bên nhau chung quanh Simon, thì Tôma đã không hiện diện. Vì thế, khi anh em nói về việc họ đã được gặp Chúa Phục Sinh, được Chúa trao bình an và quyền thực thi lòng thương xót tha thứ, Tôma đã không thể tin. Chỉ sau khi ông quay trở về với anh em, cùng hiệp thông trọn vẹn với Simon và các tông đồ, ông mới có thể đón nhận được mầu nhiệm Phục sinh. Chỉ khi sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội, Tôma mới có thể cảm nhận được lòng thương xót của Chúa, được đụng chạm đến vết yêu thương của Ngài và đi đến xác tín vào Ngài.
Hôm nay cử hành lòng Chúa thương xót, chúng ta cùng cảm nhận và tuyên xưng rằng, mỗi chúng ta đang được Chúa xót thương. Chúa xót thương và chăm sóc cho mỗi người theo từng hoàn cảnh của họ và cho mỗi người được đụng chạm đến tình thương của Chúa. Tuy nhiên, có thể vì chúng ta đã không gắn bó đủ với Giáo Hội, vì đã đánh mất tình hiệp thông với anh em, nên chúng ta chưa nhận ra lòng xót thương của Thiên Chúa. Qua các biến cố xảy ra cho mỗi người, mỗi gia đình, Chúa cũng cho chúng ta được đặt ngón tay vào lỗ đinh, xỏ bàn tay vào cạnh sườn của Chúa, nhưng chúng ta vẫn nghi ngờ sự hiện diện sống động của Chúa trong cuộc đời của mình.
Qua ơn tha thứ Chúa trao cho Giáo Hội, Chúa thể hiện lòng xót thương, sự kiên nhẫn chờ đợi của Ngài. Ngài luôn cho chúng ta có cơ hội để chúng ta quay về với lòng thương xót tha thứ của Chúa. Đừng bao giờ hồ nghi về sự tha thứ của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Cha chúng ta. Đừng bao giờ giới hạn lòng thương xót qủang đại của Thiên Chúa, vì lòng thương xót của Thiên Chúa thì vô bờ, không bao giờ bị giới hạn và không bao giờ cạn nguồn. Bí tích Giải tội là nơi Thiên Chúa mượn thánh vụ và môi miệng của các thừa tác viên của Giáo Hội để nói lời yêu thương, thông cảm, tha thứ của Chúa. Vì thế, đừng bao giờ ngại ngùng hoặc từ chối đến với Bí Tích Xót Thương này.
Xin Chúa cho chúng ta luôn khiêm tốn mở trái tim để đón nhận lòng Chúa xót thương và biến chúng ta thành thừa tác viên lòng thương xót của Chúa cho anh chị em chung quanh. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

CHÚA NHẬT PHỤC SINH 2016:

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016
PHỤC SINH ĐEM LẠI SỰ BIẾN ĐỔI
Trong một lần thăm viếng mục vụ,  một linh mục trò chuyện với một cụ già gần 90 tuổi. Vị linh mục hỏi ông cụ : Nếu Chúa cho cụ sống thêm 50 năm nữa, cụ có muốn không ? Cụ già trả lời : Con chỉ muốn sống thêm, nếu con được thay đổi để sống một cuộc sống khác hơn thì con muốn. Con cũng chỉ muốn sống thêm khi thấy con cái cũng thay đổi, sống khác hơn bây giờ, yêu thương nhau hơn, kính trọng, thảo hiếu hơn, thì con mới muốn sống thêm. Chứ sống lâu mà bệnh tật, nhìn thấy con cháu ngỗ nghịch, phá phách thì sống thêm nữa để làm gì ?
Họp mừng Chúa Sống Lại chỉ thực sự là niềm vui và có ý nghĩa khi mỗi chúng ta thật lòng thay đổi nếp sống, để cùng Chúa Giêsu sống một cuộc sống mới. Nếu Đức Giêsu sống lại để sống một cuộc sống mới, mà những kẻ tin vào Ngài vẫn sống nếp sống cũ, thì điều đó sẽ không có giá trị và ý nghĩa gì. Như vậy, chúng ta phải làm sao để cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu thực sự tác động và biến đổi cuộc đời chúng ta.
Các bài đọc ngày lễ Chúa Phục Sinh muốn nói đến sự biến đổi của những con người đã được gặp và đã tin vào Mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Sự kiện Phục Sinh là sự kiện của đức tin. Sự kiện này vượt quá khả năng của lý trí và sự kiểm nghiệm của giác quan. Để đón nhận đức tin, cần phải có ơn Chúa và đón nhận sự chỉ dạy của Giáo Hội. Tin Mừng Gioan cho chúng ta nhiều hình ảnh mang tính biểu trưng. Thánh sử kể lại chuyện của Bà Maria Madalena. Bà là người đã tin Chúa sống lại nhờ tìm kiếm dựa vào kinh nghiệm cá nhân và lời chứng của Giáo Hội. Thánh Gioan cho thấy bà ra mộ từ sáng sớm, khi trời còn tối. Khi đến nơi, bà thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ. Bầu trời tối, không chỉ là sự tối tăm của thiên nhiên, nhưng còn là sự tối tăm trong tâm hồn của bà Madalena. Ánh sáng Phục Sinh chưa chiếu vào tâm hồn bà được. Mặc dù đã nhìn thấy tảng đá được lăn ra khỏi mộ, nhưng bà vẫn nuôi trong mình suy nghĩ của sự chết và hình ảnh Thầy Giêsu đã chết. Vì thế, bà về nói với các tông đồ : Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.
Thánh Gioan cũng cho thấy, trong lúc bối rối về Mầu nhiệm Phục Sinh, bà đã chạy về gặp ông Simon Phêrô và môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Điều đó có nghĩa là khi gặp thử thách về đức tin, chúng ta đừng chạy ra, cũng đừng chạy đi, mà phải chạy về với Simon, tức là với Giáo Hội. Vì Simon và các tông đồ chính là chỗ dựa đức tin cho chúng ta, các Ngài là những người có thẩm quyền trong đức tin.
Thánh Gioan cũng kể về kinh nghiệm đức tin của Simon và của chính ông, người môn đệ Chúa yêu. Một người là môn đệ được Chúa yêu, người kia là môn đệ yêu Chúa nhất. Cả hai ông cùng chạy ra mộ. Người môn đệ kia đến trước, nhưng ông vẫn chờ và nhường cho Simon đến sau vào mộ trước. Hành động này cho thấy sự tôn trọng quyền thủ lãnh của Phêrô, người được Chúa trao nhiệm vụ củng cố đức tin cho anh em.
Simon Phêrô bước vào trong mồ, thấy những tấm băng vải để đó được xếp gọn gàng, khăn che đầu được cuộn lại và để riêng một nơi. Chi tiết này chứng tỏ không hề có ai lấy xác Chúa như bà Madalena đã nói. Vì nếu kẻ trộm lấy xác, chắc chắn chúng không gỡ những băng vải ra làm gì. Nếu là kẻ trộm, chúng sẽ không có thời giờ để gấp gọn các khăn và băng vải. Như thế, Simon đã nhận ra, đây chính là dấu chứng cho thấy Thầy của các ông đã sống lại.
Niềm tin của Gioan vào mầu nhiệm Phục Sinh có khác với Simon. Đứng trước việc tảng đá đã lăn ra khỏi mộ, Gioan đã cúi xuống để nhìn vào trong mồ và thấy những băng vải còn đó. Tin Mừng muốn nói rằng, để có thể chấp nhận được niềm tin Phục Sinh, cần phải có một thái độ khiêm tốn, cung kính cúi mình trước những mầu nhiệm siêu việt này. Chỉ khi cúi xuống, mới có thể thấy những dấu vết của mầu nhiệm Chúa Phục Sinh để lại trong cuộc đời chúng ta. Kế đó, ông bước vào trong mộ cùng với Simon Phêrô, ông đã thấy và ông đã tin.
Tuy nhiên, không phải mọi người đều có thể tiếp cận được với những lý chứng như ngôi mộ trống hoặc những tấm khăn xếp gọn là dấu vết về cuộc phục sinh của Chúa. Vì thế, thánh Gioan mời gọi chúng ta, muốn đón nhận được niềm tin Phục Sinh thì cần phải đọc và suy gẫm Kinh Thánh. Tác giả ghi lại : Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết. Kinh Thánh là Lời của Chúa và là chương trình yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người. Kinh Thánh nói về Chúa Giêsu và cuộc tử nạn phục sinh của Người. Tin vào Kinh Thánh, chúng ta sẽ có niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh.
Khi đón nhận được niềm tin phục sinh, chúng ta sẽ được biến đổi và phải biến đổi nên con người mới. Chúa Giêsu sống lại, Ngài không sống lại với con người cũ. Mặc dù vẫn là thân xác, vẫn mang những dấu đinh, nhưng thân xác ấy đã hoàn toàn biến đổi. Thân xác của Chúa không còn bị giới hạn hay lệ thuộc vào không gian thời gian. Thân xác Chúa dù rất quen thuộc khiến cho Madalena nhận ra giọng nói của Ngài, nhưng cũng rất khác lạ khiến cho các phụ nữ và các tông đồ khi gặp đã không nhận ra Ngài.
Có một điều chắc chắn, Chúa Phục Sinh đã biến đổi hoàn toàn cuộc đời các tông đồ. Các ông từ những kẻ nhát sợ, đã trở nên can đảm ; từ những kẻ như đã chết, nay được hồi sinh ; từ những kẻ bình dân, nhà quê nay trở nên thông thái, mạnh dạn nói về Chúa Giêsu Phục Sinh.
Bài đọc một cho thấy, Phêrô đã không còn nhát sợ, không còn tính bồng bột trước đây, ông đã trở thành cột trụ cho Giáo Hội sơ khai, thành người rao giảng không mệt mỏi về Chúa Phục sinh. Tại nhà ông Cornêliô, Phêrô đã có một bài giảng long trọng nói về Chúa Giêsu Nazaret : Ngài là Đấng được Thánh Thần xức dầu để thi hành sứ mạng cứu độ. Ngài đã thi ân giáng phúc, dùng quyền năng mà làm nhiều phép lạ. Cuối cùng, người Do Thái đã giết Ngài, treo trên thập giá, nhưng vào ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Ngài chỗi dậy.
Phêrô đã làm chứng rằng : Chúa Giêsu đã chỗi dậy, đã hiện ra tỏ tường với chúng tôi là những nhân chứng Người đã tuyển chọn từ trước. Chính chúng tôi là những kẻ đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng : Chính Ngài là Đấng Thiên Chúa đã đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Khi lãnh Bí tích Rửa tội, chúng ta được dìm vào cái chết và bước vào cõi sống cùng với Chúa Giêsu Kitô. Do đó, tuyên xưng Chúa sống lại không chỉ là lời tuyên xưng trên môi miệng, mà phải cùng biến đổi với Chúa Kitô. Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta : Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc về thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Tin Chúa Giêsu sống lại, chúng ta không thể để mình bị chìm trở lại trong con người cũ, nhưng phải sống một con người mới, một thay đổi mới. Chắc chắn Chúa chịu chết và sống lại muốn nhìn thấy chúng ta là con Ngài sống tốt hơn, gắn bó với Ngài hơn. Ngài chết để cứu chuộc chúng ta, Ngài muốn chúng ta thuộc về Ngài. Ngài sống lại để đem đến cho nhân loại sự sống mới, Ngài muốn chúng ta đón nhận sự sống mới từ nơi ngài để được sống.
Hãy bắt đầu bằng việc làm mới lại bản thân, sống một quyết tâm mới, một con người mới. Hãy đến với Chúa thường xuyên hơn, gặp gỡ, gắn bó với Chúa nhiều hơn trong cầu nguyện và trong những công việc thường ngày. Hãy làm cho gia đình mình thực sự trở nên mới hơn, nhiều tiếng cười, nhiều niềm vui và nhiều hạnh phúc hơn. Hãy bước đến với anh em chòm xóm và mọi người với một gương mặt mới, vui hơn, tươi hơn. Hãy đem đến cho nhau tấm lòng tốt hơn, đẹp hơn và hãy làm nhiều việc nhân ái hơn, bao dung, quảng đại hơn cho người chung quanh.
Xin cho chúng ta biết để Chúa Phục sinh biến đổi mỗi người nên những con người mới và làm cho mầu nhiệm Chúa Phục sinh lan tỏa và biến xã hội này nên tốt đẹp hơn. Amen.

Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc
 

Bai đang học

PHUNG VU GIO KINH

GÍAO HỘI

HỘI ĐỒNG GIÁM MUC

HỘI DONG ĐAMINH TAM HIỆP

SÁCH KINH THÁNH TIẾNG ANH

LOI CHUA TIENG ANH MOI NGAY

ĐÀI CHÂN LÝ

THẮC MẮC VỀ TÔN GIÁO

NHAC LÝ GUITA

SỨC KHỎE

TẢI VIDEO NHANH KHÔNG CẦN PHẦN MỀM

LUYỆN THI TIẾNG ANH

GIẢI TRÍ

HOC ĐÀN

Đăng Ký

Tên

Email *

Thông báo *

Hỗ Trợ Online

Tổng số lượt xem

Lên đầu trang Xuống cuối trang