TAM NHẬT THANH B (2015) | NIỀM VUI PHỤC VỤ

VỌNG PHỤC SINH

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015
HÃY LĂN TẢNG ĐÁ RA Người ta kể lại trường hợp của một người bị nhồi máu cơ tim, sau khi sử dụng mọi biện pháp cấp cứu, bệnh viện kết luận rằng bệnh nhân đã chết và gia đình đã đem bệnh nhân về nhà để lo mai táng. Tuy nhiên khi tẩm liệm, người ta thấy xác người này vẫn mềm. Một người bạn thân đã đề nghị gia đình ngưng việc tẩm liệm. Đến chiều, người ta thấy cái xác dường như cử động. Mọi người sợ hãi bỏ chạy, người bạn kia mạnh dạn đến gần thì thấy cái xác mở mắt. Ông đã giục gia đình đem người nhà đến bệnh viện và người bệnh đã phục hồi. Các bác sĩ cho rằng,người chết này chỉ chết lâm sàng dạng sâu, nên các bác sĩ tại bệnh viện trước đây đã kết luận là ông đã chết. Điều đáng lưu ý là tại sao gia đình và người thân khi thấy xác ông cử động trở lại, họ không vui mừng vì thấy ông còn sống mà lại sợ hãi bỏ chạy? Có lẽ vì trong đầu họ, người thân đã chết thật rồi. Câu chuyện trên giúp chúng ta dễ hiểu tâm trạng của các phụ nữ Tin Mừng thuật lại: Khi được hai người mặc áo trắng báo tin Chúa đã sống lại, các bà ra khỏi mộ liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía, không dám nói gì với ai vì sợ. Sự kiện Chúa sống lại, mặc dù đã được Chúa nói trước nhiều lần, song đây vẫn là một điều vượt quá sức tưởng tượng, chưa bao giờ thấy.Vì thế, các phụ nữ này vô cùng sợ hãi và không dễ dàng chấp nhận. Trong tâm hồn các bà, Chúa đã chết, đã chấm dứt tất cả, không còn hy vọng gì nữa. Các bà ra mộ với một mục đích duy nhất là đi thăm và chăm sóc một cái xác đã chết. Ý nghĩ này bao trùm tâm trí các bà khiến tâm hồn các bà chìm ngập trong sự ám ảnhvề cái chết của Chúa Giêsu. Bên cạnh đó, hòn đá lấp cửa mộ cũng đồng thời là hòn đá đang đè nặng trên tâm trí các bà và đè bẹp mọi hy vọng của các phụ nữ này. Các bà bảo nhau: Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm chúng ta? Chắc chắn không ai có thể lăn tảng đá ra khỏi tâm hồn, trừ khi có bàn tay của Thiên Chúa. Khi các phụ nữ đến nơi, ngước mắt lên, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi cửa mộ. Điều này cho thấy: Tin Mừng Phục sinh vượt quá lẽ tự nhiên của con người, nếu chúng ta cứ mãi cắm mặt xuống đất, nuôi dưỡng những lý luận theo kiểu dưới đất, thì chúng ta sẽ bị chôn vùi trong ngôi mộ chết chóc của nó. Ngược lại, biến cố phục sinh đòi chúng ta phải ngước mắt lên, chỉ khi ngước mắt lên chúng ta mới thấy và nhận ra quyền năng của Thiên Chúa; ngước mắt lên để chúng ta có sức mạnh đẩy lui hòn đá chết chóc ra khỏi tâm hồn. Người thanh niên mặc áo trắng nói với các bà: Đừng hoảng sợ ! Các bà tìm Đức Giêsu Nazaret, Đấng bị đóng đinh ? Người đã trỗi dậy rồi, không còn ở đây nữa. Đó là tin mừng Phục sinh đầu tiên được loan báo cho các phụ nữ. Để củng cố cho niềm tin này, người thanh niên đó lại dặn các phụ nữ: Về nói với các môn đệ của Người và ông Phêrô rằng, Người sẽ đến Galilêa trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Về báo cho các môn đệ và ông Phêrô - điều này cho thấy niềm tin vào Chúa phục sinh phải được cậy dựa vào niềm tin của các tông đồ là Giáo hội mà Phêrô là thủ lãnh. Chính Phêrô và các tông đồ mới là những người có tiếng nói quyết định và sau cùng về vấn đề này. Vì thế, để đón nhận được mầu nhiệm phục sinh, chúng ta phải gắn bó và nghe theo sự dạy bảo của Phêrô và các tông đồ. Chúa phục sinh hẹn gặp các tông đồ tại Galiêa.Ngài vẫn hẹn chúng ta đến để được gặp Ngài. Ngài hẹn gặp chúng ta nơi Thánh lễ mỗi ngày. Nơi đây, chúng ta sẽ được gặp Đấng Phục sinh một cách sống động, cụ thể qua Lời của Ngài, qua giáo huấn của Giáo hội. Đặc biệt, chúng ta sẽ gặp Ngài qua bí tích Thánh Thể. Nhờ gặp gỡ Chúa Phục sinh mỗi ngày, chúng ta sẽ được biến đổi nên con người mới. Để đón nhận được Tin mừng phục sinh,chúng ta phải lật tảng đá chết chóc đang đè nặng tâm hồn. Cần lật bỏ hòn đá tội lỗi, đang làm chúng ta xa tránh Thiên Chúa, dửng dưng với Tin mừng Phục sinh, trở nên vô cảm với lời chứng của Giáo Hội. Bên cạnh đó còn có những tảng đá lớn mà xã hội và con người ngày nay đang cố ý dè trên chúng ta. Đó là lối sống duy khoa khọc, tư tưởng duy vật vô thần, những trào lưu sống thực dụng, tiêu dùng, hưởng thụ đang là những hòn đá lớn cản trở, khiến nhiều người nghi ngờ về Mầu nhiệm Phục sinh. Điều quan trọng để đón nhận được Tin vui Phục sinh, chúng ta phải ngước mắt lên để nhìn nhận quyền năng Thiên Chúa, để thấy những sự siêu việt mà Thiên Chúa đã thực hiện trong lịch sử và trong cuộc đời mỗi người. Đừng cắm mặt xuống đất để tìm vật chất, cũng đừng cắm mặt xuống vì sợ hãi. Có những người sợ mất quyền lợi, mất địa vị xã hội, họ cố tình cắm mặt xuống đất, không dám thể hiện niềm tin cuả mình, không dám loan truyền mầu nhiệm Chúa Phục Sinh. Hãy ngước mặt lên để bước ra khỏi sự sợ hãi ngại ngùng, hiên ngang sống và làm chứng về việc Chúa đã sống lại. Ngước mắt lên để nhìn thấy quyền năng biến đổi của Thiên Chúa, để dám phó thác, tin tưởng vào Ngài. Sau cùng, Thánh Phalô đã dạy chúng ta: Dòng nước thánh tẩy đã làm cho chúng ta trở nên con người mới. Ánh sáng của Chúa Phục sinh đã được thắp sáng trong mỗi chúng ta. Hãy làm cho ngọn đèn phục sinh luôn cháy sáng và luôn chiếu tỏa ra cho anh chị em qua đời sống gương sáng của mình. Hãy để cho dòng nước tái sinh của Bí tích Rửa tội làm cho chúng ta nên con người mới. Hãy chôn vùi khỏi chúng ta sự lười biếng, tội lỗi và những thói xấu để trở nên con người mới, con người thuộc về Chúa Kitô Phục sinh. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

SỰ VÔ CẢM ĐẾN NHẪN TÂM CỦA CON NGƯỜI Trong sứ điệp Mùa Chay 2015, Đức Thánh Cha Fancis cảnh báo về lối sống đang diễn ra trong xã hội và thế giới hôm nay. Đó là lối sống dửng dưng vô cảm, thiếu quan tâm đến người khác. Ngài nhắc lại câu chuyện Cain và Abel trong Cựu Ước. Cain vì ghen tỵ, nghĩ là Thiên Chúa thương Abel hơn mình, nên đã tìm cách thủ tiêu Abel. Sau khi gây ra điều ác, Cain lẩn trốn Thiên Chúa, nhưng ánh mắt của Thiên Chúa vẫn dõi theo anh. Chúa hỏi anh : Cain ơi ! Em ngươi đâu ? Cain đã trả lời hết sức nhẫn tâm : Tôi không biết ! Tôi không phải là người canh giữ em tôi ! Đức Thánh Cha cho thấy sự vô tâm, vô cảm đang ảnh hưởng trên nhiều cá nhân. Hơn nữa, nó còn mang tầm mức xã hội, quốc gia và thế giới. Nó thể hiện qua việc con người chỉ lo tìm kiếm phần lợi về cho mình mà không quan tâm đến hậu quả mình gây ra hoặc những điều đang xảy ra cho anh em. Lý do là vì khi con người cảm thấy an toàn, thoải mái trong sự hưởng thụ của mình, thì người ta quên những vấn đề của người khác cùng những đau khổ, bất công mà họ phải chịu… Những lúc ấy, con người rơi vào tình trạng dửng dưng. Thái độ ích kỷ, dửng dưng trở nên hết sức nguy hiểm khi trở thành một lối sống trong xã hội. Ngày nay, con người tỏ ra dửng dưng với các sự kiện đang xảy ra, coi thường chân lý và sự thật, không lên tiếng phản đối những bất công để bảo vệ công lý. Từ dửng dưng với tha nhân sẽ dẫn đến dửng dưng với Thiên Chúa. Bài Thương khó hôm nay cho thấy tình yêu hy sinh đến cùng của Thiên Chúa. Vì yêu con người, muốn cho con người hạnh phúc, Chúa Giêsu đã chấp nhận một cuộc hành hình đau đớn và cuối cùng là cái chết nhục nhã trên thánh giá. Cũng qua bài thương khó này, tác giả còn cho thấy sự dửng dưng, vô cảm của con người, của xã hội trước bản án bất công mà giới lãnh đạo đã cố tình áp đặt trên một người công chính. Trước hết là sự dửng dưng, vô cảm của các môn đệ. Các ông là những người gần Chúa Giêsu nhất, đáng lẽ các ông phải là người hiểu và cảm thông với Chúa hơn mọi người. Thực tế thì ngược lại, các ông chỉ quan tâm đến bản thân, mà không hề đồng cảm với Chúa Giêsu khi Ngài phải đối diện với cuộc thương khó. Trong lúc Chúa đau khổ đến nỗi có thể chết được, thì các tông đồ vẫn còn say trong giấc ngủ, mắt các ông còn mơ màng. Khi Giuda dẫn người Do Thái đến bắt Chúa, Chúa Giêsu hết sức bênh vực cho các tông đồ, Ngài còn đề nghị với chúng : Các anh bắt tôi thì cứ bắt, nhưng hãy để cho những người này đi. Còn các tông đồ như vừa giật mình thức giấc, các ông phản ứng một cách yếu ớt. Cuối cùng, tất cả đều bỏ trốn, mặc cho Chúa Giêsu một mình bị quân dữ bắt trói và lôi đi. Sự vô tâm của Giuda đã dẫn đến sự nhẫn tâm, tàn ác khi anh ta vì chút ít tiền, đã chấp nhận làm môi giới để quân lính bắt Thầy mình, đẩy Thầy vào con đường chết. Biết trước Thầy sẽ bị bắt, nhưng anh vẫn thản nhiên bước đến chào và hôn Thầy. Cái hôn này không còn là dấu chỉ biểu lộ tình yêu thương nồng ấm, nhưng đã trở thành cái hôn lạnh lùng, thành dấu chỉ của sự phản bội. Việc làm này của Giuda đã góp phần làm tổn thương Chúa Giêsu, làm cho đau khổ của Ngài không chỉ là nỗi đau thể xác, mà còn là nỗi đau thấu trong tâm hồn khi bị phản bội bởi chính người mình yêu quý. Thứ đến là sự dửng dưng, vô cảm của những người lãnh đạo Do Thái. Thánh Gioan cho thấy, những người lãnh đạo chỉ muốn tìm mọi cách để đạt được mục đích của mình là loại trừ Chúa Giêsu. Vì thế, họ đã bất chấp công lý, từ chối sự thật. Họ biết rõ Chúa Giêsu không làm gì sai trái. Họ muốn giết Chúa chỉ vì Ngài đã lên tiếng bênh vực chân lý, chỉ ra những sai trái của họ, khiến họ cảm thấy khó chịu. Hơn nữa, các thượng tế và luật sĩ đã coi mình như những người nắm giữ giáo lý, sở hữu chân lý. Vì thế, họ không chấp nhận một người nào khác nói về Thiên Chúa. Vậy nên khi Chúa Giêsu xuất hiện, Ngài nói về một Thiên Chúa là Cha yêu thương, là Thiên Chúa nhân từ, thì các thương tế và luật sĩ đã tìm cách loại trừ Chúa. Họ thản nhiên tuyên bố : Nó phải chết ! Từ các thượng tế và luật sĩ, sự dửng dưng vô cảm đã lan truyền đến dân chúng. Trong số những người đứng biểu tình, la hét trước dinh Philatô đòi giết Chúa Giêsu, có nhiều người đã từng biết Chúa Giêsu, nghe Ngài giảng dạy. Thậm chí, nhiều kẻ đã từng được ăn bánh hoặc được hưởng phép lạ Chúa làm cho họ. Thế nhưng, trước dinh Philatô, họ thản nhiên kêu gào : Giết đi ! Giết nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá ! Sự dửng dưng, vô cảm của đám đông dân chúng đã trở thành nhẫn tâm, thành dã man khi họ quyết tâm loại trừ người công chính là Chúa Giêsu để chấp nhận kẻ gian ác là Baraba. Họ chấp nhận từ chối Thiên Chúa để làm nô lệ cho đế quốc khi họ kêu gào : Chúng tôi chỉ có một vua là Cesare ! Cuối cùng, họ hồ hởi đi theo để xem một con người chịu đau khổ, bị hành hạ và bị kết án tử hình giống như thể mình là những người vô can. Trong đám đông dân chúng, có kẻ còn buông những lời độc địa, mỉa mai Đấng đã từng làm ơn cho mình. Con người thường tỏ ra dửng dưng, vô cảm và đối xử nhẫn tâm với nhau, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ như thế. Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người và những đau khổ của họ. Thiên Chúa đã nhìn thấy con người đang phải đau khổ trong tội và bị kìm hãm, trói buộc bởi ma quỷ. Ngài đã tìm đến với con người, xoa dịu những đau khổ thể xác, chữa trị những vết thương trong tâm hồn và giành lại tự do, hạnh phúc cho con người. Mặc dù chịu một bản án bất công và dã man nhưng Ngài không một lời than trách. Ngài vẫn tạo những cơ hội giúp con người nhìn lại đời sống và hành động của mình. Ngài đã đặt cho các tông đồ câu hỏi để giúp các ông thức tỉnh : Đến giờ này mà anh em còn ngủ được sao ? Ngài cũng hỏi Giuda : Ngươi định dùng cái hôn để nộp con người sao ? Trong lúc các môn đệ bỏ trốn hết vì sợ, Chúa Giêsu vẫn nhớ đến các ông và tin tưởng ở các ông. Ngài đã trả lời cho thầy thượng tế rằng : Điều tôi đã nói, ông cứ hỏi những người đã nghe tôi. Họ biết tôi đã nói gì. Trên cây thập giá, khi bị treo cùng với hai tên trộm, Chúa Giêsu vẫn quan tâm tới lời cầu xin của tên trộm lành : Khi nào về Nước Trời, xin nhớ đến tôi ! Chúa Giêsu đã hứa với anh : Ngay hôm nay, anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với tôi. Ngài quan tâm đến những tên lính, vì mệnh lệnh mà hành khổ Ngài, bằng lời cầu xin : Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm không biết ! Trong giờ phút đau khổ nhất, Chúa Giêsu còn quan tâm đến Mẹ Maria và các môn đệ khi trao phó Mẹ cho Thánh Gioan : Đây là con của Bà và đây là Mẹ con ! Nghe bài Thương khó của chúa Giêsu, chúng ta nhận ra rằng : Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người, chỉ có con người thường dửng dưng, vô cảm với nhau và dửng dưng, vô cảm với Thiên Chúa. Sự dửng dưng, vô cảm ấy bắt đầu từ lối sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân, đến lợi ích cá nhân mà bỏ quên người bên cạnh. Lối sống này cũng đang diễn ra ngay trong các gia đình, khi các thành viên chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến những người khác. Có nhiều người cha, người mẹ hoặc con cái bị bỏ quên trong gia đình, bị gạt ra khỏi sự quan tâm, chăm sóc, có khi còn lạnh lùng gây đau khổ cho nhau. Trong xã hội, nhiều người đã cố tình làm ngơ trước sự dữ, sự ác ; nhiều người đã cộng tác với những bất công mà loại trừ những anh chị em đau khổ. Nguyên nhân sâu xa của lối sống dửng dung này là vì con người dửng dưng với Thiên Chúa, nên họ cũng dửng dưng, vô cảm với anh em. Một khi con người loại trừ Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn mình thì chắc chắn sự dữ và sự ác sẽ đến trong tâm hồn. Một khi trái tim con người đóng kín trước lời mời gọi của Thiên Chúa thì cũng sẽ đóng kín trước những nhu cầu của anh chị em. Cử hành cuộc thương khó của Chúa Giêsu hôm nay, xin Chúa biến đổi tâm hồn và cuộc sống chúng ta. Xin cho mỗi người trở nên mềm lòng trước tình yêu của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có một trái tim thật mềm để biết chạnh thương, rung động trước những đau khổ của anh em, và có một tâm hồn thật nhạy bén để biết quan tâm và cảm thông. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc

THỨ NĂM THÁNH 2015

THÁNH THỂ – QUÀ TẶNG TÌNH YÊU Cách đây vài tháng, cộng đồng mạng khâm phục một người mẹ trẻ về sự hy sinh của cô dành cho con. Cô sống tại Hà Nội. Mang thai được vài tháng, một lần đi khám thai, bác sĩ phát hiện cô có một khối u ác tính trong vòm mắt. Các bác sĩ nói nếu cô đồng ý hóa trị ngay trong giai đoạn đầu thì có thể ngăn chặn được khối u. Tuy nhiên, nếu thực hiện hóa trị, đứa bé trong bụng cô sẽ bị ảnh hưởng và có nguy cơ sẽ chết. Sau khi suy nghĩ và bàn với chồng, cô đã nhất định từ chối các biện pháp hóa trị để không làm ảnh hưởng đến thai nhi. Cô nói rằng : Tôi sẵn sàng chết vì ung thư để con tôi được ra đời khỏe mạnh. Sau những ngày đó, cô đã phải hết sức vất vả để chống chọi với khối u ác tính và để bảo vệ đứa con. Sau đó, cô đã sinh ra một bé trai kháu khỉnh, dễ thương, nhưng rất tiếc, cô chỉ có thể nghe tiếng khóc của con mà không thể nhìn thấy con. Cô chia sẻ trong niềm vui : Đôi mắt của tôi đã đổi được mạng sống của một con người. Tôi sẽ không bao giờ hối hận về quyết định của mình. Người phụ nữ trên được coi là can đảm, là mẫu gương của tình mẫu tử vì đã dám chấp nhận sự mù lòa, đau đớn vì bệnh tật và chấp nhận cái chết để cứu mạng sống của đứa con mình. Trong buổi chiều ngày Thứ Năm Thánh hôm nay, chúng ta còn được chứng kiến một tình yêu hy sinh cao cả, vĩ đại hơn, đó là tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại. Ngài không chỉ hy sinh, chấp nhận đau khổ và cái chết, mà còn muốn trao tặng chính máu thịt của Ngài làm của ăn, của uống để đem lại cho chúng ta sự sống. Chỉ những ai đã nuôi con, mới hiểu hết nỗi lòng cha mẹ đối với con cái, chỉ những ai sống trong tương quan tình yêu với Chúa Giêsu thì mới có thể cảm nhận được tình yêu của Ngài mà thôi. Thánh Gioan đã cảm nghiệm và đã nhận ra tình yêu thương của Chúa Giêsu dành cho các học trò qua từng lời nói, từng hành động trong bữa tiệc chia tay này. Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, …Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình, và người yêu thương họ đến cùng. Yêu đến cùng là yêu như thế nào ? Đó là yêu trọn vẹn, không so đo tính toán, không cân nhắc thiệt hơn và cũng không bao giờ hối tiếc. Yêu đến cùng là chấp nhận mọi sự thiệt thòi, rủi ro về mình, chấp nhận đau khổ và cả cái chết, là làm tất cả những gì có thể cho người mình yêu, để người mình yêu được sống hạnh phúc. Vì thế, Thánh Gioan thấy Chúa Giêsu như một người Cha biết trước mình không còn nhiều thời gian ở với các môn đệ, nên Ngài đã làm tất cả những gì có thể để đem lại hạnh phúc cho môn đệ mình. Ngài chỗi dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Với từng cử chỉ đang diễn ra trước mắt các tông đồ, Thánh Gioan đã nhận ra nhiều ý nghĩa nơi hành động của Chúa Giêsu. Chỗi dậy rời khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra : Chúa Giêsu đã rời bỏ địa vị là một vị Thiên Chúa, một người Thầy để bước đến với con người. Ngài chấp nhận hy sinh đến hiến mạng sống mình cho các môn đệ. Ngài lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và rửa chân cho các môn đệ : Với hành động này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã chấp nhận một cuộc hoán đổi vị trí, từ một Thiên Chúa, Ngài chấp nhận làm con người ; từ một người Thầy, Ngài chấp nhận làm đầy tớ ; từ địa vị được tôn thờ, Ngài chấp nhận trở thành kẻ phục vụ. Chỉ kẻ nô lệ mới rửa chân cho chủ, vậy mà, Chúa Giêsu lại làm công việc ấy cho các môn đệ của mình. Không chỉ hạ mình làm kẻ phục vụ, Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa khi Ngài tự hiến chính mình để phục vụ trọn vẹn cho nhân loại. Ngài đã đi đến tột cùng của tình yêu khi dâng tặng thịt mình làm của ăn và máu mình làm của uống cho nhân loại : Đây là mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống. Khi yêu nhau, người ta muốn ở mãi bên nhau và nên một với nhau. Vì yêu, Chúa Giêsu cũng muốn ở mãi với con người, muốn nên một với con người. Ngài đã chấp nhận trở thành của ăn, của uống để cho những người Ngài yêu được ăn, và để ngài có thể đi vào trong tâm hồn, vào trong từng đường gân thớ thịt của con người, làm nên máu thịt con người. Với hành động trao ban máu thịt của mình cho các môn đệ, Chúa Giêsu cho thấy máu thịt của Ngài không chỉ trở thành lương thực bổ dưỡng mà còn có sức thanh tẩy tâm hồn con người khỏi mọi tội lỗi, biến đổi những kẻ đón nhận và trao ban cho họ sức sống thần linh của Thiên Chúa. Giống như một người cha sắp phải chia tay con mình, ông muốn làm tất cả những gì có thể cho con, Chúa Giêsu cũng vậy. Ngài không chỉ gây bất ngờ cho các môn đệ khi rửa chân và ban thịt máu cho các ông làm của ăn, của uống, Ngài còn làm một việc táo bạo hơn nữa, đó là trao cho các ông quyền nhân danh Ngài để thực hiện những việc Ngài vừa làm, tức là lập nên chức Linh Mục : Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Khi trao ban cho các tông đồ chức Linh mục, Chúa Giêsu biết rất rõ từng người trong các ông. Chúa biết các ông yếu đuối, thấp hèn và còn mang đầy sự ghen tị, nhỏ nhoi. Vậy mà, Chúa đã tin tưởng đặt quyền năng của mình vào tay các ông. Khi trao cho các ông : Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy, Chúa vừa cho các tông đồ nhân danh Chúa để làm công việc của một vị Thiên Chúa, đồng thời Chúa cũng hạ mình để “vâng lời” các ông. Vì thế, khi các ông làm công việc này, thì Chúa lại hiện diện bằng việc làm cho bánh rượu trở nên thịt máu Chúa và trở nên lương thực để các ông phân phát cho mọi người. Mặc dù được Chúa trao ban chức linh mục, nhưng Chúa không hề làm thay đổi con người của các tông đồ, cũng không biến các ông thành siêu nhân, nhưng vẫn muốn các ông sống trọn thân phận con người với những giới hạn của con người. Chọn những con người bất toàn để thi hành nhiệm vụ siêu việt, chọn những người yếu đuối, tội lỗi để thực hiện công việc thánh thiêng, Chúa Giêsu muốn các tông đồ ý thức điều đó, để các ông không cậy dựa vào sức riêng mình, nhưng khiêm tốn cậy dựa vào quyền năng và sự nâng đỡ của ơn Chúa. Chắc chắn trong bữa tiệc ly hôm đó, các tông đồ chưa thể hiểu hết ý nghĩa việc Chúa làm và những điều Chúa mong đợi nơi các ông. Vì thế, Chúa Giêsu đã giải thích : Việc Thầy làm bây giờ, anh em chưa hiểu được, nhưng sau này, anh em sẽ hiểu… Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Đó là bài học quan trọng Chúa muốn các ông đón nhận. Rửa chân cho nhau tức là phải dám từ bỏ vị trí của mình, rời khỏi chỗ an toàn, êm ấm của mình để bước đến với anh em, để phục vụ anh em. Rửa chân cho nhau là phải dám cúi xuống, từ bỏ những tự ái cùng với kiêu căng để khiêm nhường phục vụ anh em, không đòi hỏi, không điều kiện và không mong đợi bất cứ sự đền đáp nào. Hãy yêu như Thầy đã yêu và hãy làm như Thầy đã làm, đó chính là bài học Chúa muốn nơi mỗi người. Chúa muốn chúng ta phục vụ không vì miễn cưỡng, nhưng hãy làm với sự thúc đẩy của tình yêu. Khi được tình yêu thúc đẩy, ta sẽ biết phải làm gì để đem đến niềm vui và hạnh phúc cho anh em. Yêu như Chúa yêu là dám trao ban con người và cả cuộc đời cho anh em, là trở nên tấm bánh chấp nhận bị bẻ ra, bị nhai nát để cho anh em được sống hạnh phúc. Hãy cúi xuống để có thể lắng nghe và thông cảm với những đau khổ và nhọc nhằn của anh chị em. Bao lâu chúng ta không dám cúi xuống, không dám rửa chân cho anh em, thì chúng ta không thể nghe, không thể nhìn thấy những đau khổ, bất hạnh của anh chị em mình. Hãy cúi xuống để phục vụ cha mẹ già trong gia đình, bằng sự yêu thương kính trọng ; hãy cúi xuống để yêu thương và phục vụ chồng, vợ và con cái của mình bằng sự hy sinh, bằng sự trao ban và yêu thương đến tận cùng ; hãy quan tâm đến nhau nhiều hơn, hãy quan tâm đến hàng xóm láng giềng, những người sống bên cạnh chúng ta, hãy để cho trái tim mình nhạy bén và nhắc bảo chúng ta biết phải làm gì cho nhau. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy là lời mời gọi tha thiết Chúa gửi đến cho từng người. Hãy siêng năng đến với Bí tích Thánh Thể, siêng năng lãnh nhận, cầm lấy mà ăn để nhận được sự nâng đỡ bổ sức và tình yêu thương của Chúa. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy còn là lời nhắc nhở tất cả chúng ta chu toàn chức linh mục của mình là thờ phượng, tế tự Thiên Chúa, là dâng hy lễ mỗi ngày cùng với những hy sinh, vất vả để làm nên của lễ tôn vinh Thiên Chúa, đem ơn cứu độ cho chính mình và cho gia đình. Đừng để cho công việc và sự lười biếng làm ta quên lệnh truyền thiêng liêng này, đồng thời cũng cầu nguyện và thông cảm cho các linh mục thừa tác, họ là những con người yếu đuối, hèn mọn luôn cần đến sự nâng đỡ và cảm thông của mọi người. Xin cho mỗi người cảm nhận được tình yêu và thấm nhuần bài học yêu thương phục vụ Chúa dạy hôm nay, để nhờ theo bước Chúa trong những ngày thánh này, chúng ta cũng dám sống và thực hành điều Chúa muốn chúng ta hôm nay : Hãy yêu như Thầy đã yêu và hãy làm như Thầy đã làm cho anh em. Amen. Lm. Giuse Đỗ Đức Trí – Gp. Xuân Lộc
 

Bai đang học

PHUNG VU GIO KINH

GÍAO HỘI

HỘI ĐỒNG GIÁM MUC

HỘI DONG ĐAMINH TAM HIỆP

SÁCH KINH THÁNH TIẾNG ANH

LOI CHUA TIENG ANH MOI NGAY

ĐÀI CHÂN LÝ

THẮC MẮC VỀ TÔN GIÁO

NHAC LÝ GUITA

SỨC KHỎE

TẢI VIDEO NHANH KHÔNG CẦN PHẦN MỀM

LUYỆN THI TIẾNG ANH

GIẢI TRÍ

HOC ĐÀN

Đăng Ký

Tên

Email *

Thông báo *

Hỗ Trợ Online

Tổng số lượt xem

Lên đầu trang Xuống cuối trang